Di tích An Sơn Miếu – thường được người dân gọi là Miếu Bà Phi Yến – tọa lạc tại làng An Hải, dưới chân núi Thánh Giá, cách trung tâm thị trấn Côn Đảo khoảng 2,5 km về hướng Đông Nam, nằm trên trục đường Nguyễn Huệ – Tôn Đức Thắng – Miếu Bà. Đây là nơi thờ Thứ phi Hoàng Phi Yến, vợ của chúa Nguyễn Phúc Ánh.
Lịch sử và truyền thuyết về Bà Phi Yến
Theo truyền thuyết, Bà Phi Yến mất tại làng An Hải năm 1785, nơi di tích hiện nay tọa lạc. Miếu nằm trên khu đất bằng phẳng, rợp bóng cây thị rừng cổ thụ; kiến trúc sân vườn hài hòa với cảnh quan tự nhiên tạo nên vẻ linh thiêng, trầm mặc.
Ngôi miếu hiện nay được xây dựng lại năm 1958 dưới thời Mỹ – Ngụy, thờ Bà Phi Yến, Hoàng Tử Cải và Quan Đô đốc Ngọc Lân – vị quan trung trinh từng bảo vệ mẹ con Bà.
Theo dân gian, năm 1783, chúa Nguyễn Ánh chạy ra Côn Đảo lánh nạn trước sự truy đuổi của quân Tây Sơn, và Bà Phi Yến đi theo. Vì can ngăn Nguyễn Ánh cầu viện quân Pháp, Bà bị giam trong một hang đá hoang vắng. Con trai của Bà – Hoàng Tử Cải – vì thương mẹ khóc lóc nên bị khép tội “a tòng” và bị ném xuống biển. Dân làng Cỏ Ống vớt được xác và chôn cất, lập miếu thờ (miếu Hoàng Tử Cải vẫn còn đến nay).
Truyền thuyết kể rằng trong thời gian bị giam, Bà được Vượn Bạch nuôi bằng trái cây rừng; sau đó được Vượn Bạch và Hắc Hổ cứu đưa về làng Cỏ Ống.
Năm 1785, trong lễ cúng đình làng An Hải, Bà được rước về tham dự. Tại đây, Bà bị Biện Thi – một người làng – xúc phạm. Để giữ trọn danh tiết, Bà đã tự vẫn vào ngày 18/10 âm lịch. Thương tiếc, người dân lập miếu thờ để ghi nhớ công đức và tiết hạnh của Bà.
Quá trình hình thành và trùng tu di tích
Năm 1861, khi thực dân Pháp chiếm Côn Đảo và cưỡng bức di dời toàn bộ dân cư vào đất liền, miếu không còn người chăm sóc và bị sụp đổ.
Đến năm 1958, Côn Đảo trở thành tỉnh Côn Sơn. Trưởng ty Ngân khố – ông Nguyễn Kim Sáu – xem lại “Sử lược Côn Đảo”, nhận thấy sự hy sinh tiết liệt của Bà Phi Yến nên quyết định phục dựng miếu ngay trên nền cũ, bằng nguồn quỹ phúc lợi và sức lao động khổ sai của tù nhân.
Giá trị văn hóa vật thể
An Sơn Miếu xây theo dạng chữ Nhất, có tường rào bao quanh, diện tích toàn khu khoảng 4.200 m², trong đó diện tích kiến trúc hơn 1.100 m².
Cổng hướng Tây Nam, xi măng, trên có biển “An Sơn Miếu”.
Lối vào lát đá rộng 2 m.
Sân miếu có bàn thờ thiên, hồ tròn với non bộ tượng trưng hang đá nơi Bà từng bị giam.
Trong sân có hai cây thị cổ thụ quý hiếm.
Cửa Tam quan quay về hướng Đông, phía sau là chính điện và các công trình phụ.
Bên trong bốn bàn thờ: Quan Thế Âm Bồ Tát, Bà Phi Yến, Quan Đô đốc Ngọc Lân và Hoàng Tử Cải.
Giá trị văn hóa phi vật thể
Côn Đảo sau 1975 không có tổ chức tôn giáo chính thức, nhưng lại là nơi hội tụ văn hóa từ nhiều vùng miền do cư dân nhập cư từ khắp cả nước.
Để đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, người dân thỉnh tượng Quan Âm về đặt trong miếu. Vào mồng một và ngày rằm hàng tháng, ngư dân và dân địa phương đến cúng viếng, vì thế miếu còn được gọi là Chùa Bà.
Lễ giỗ Bà Phi Yến từng do người dân tự tổ chức; từ năm 1987 trở đi có sự phối hợp của Mặt trận Tổ quốc và Ban Quản lý Di tích Côn Đảo. Lễ diễn ra hàng năm vào 18/10 âm lịch, trở thành nét văn hóa đặc sắc của đảo.
Thực trạng và giải pháp bảo tồn
An Sơn Miếu là di tích có giá trị đặc biệt về văn hóa – lịch sử – tín ngưỡng, nhưng hiện nay đang xuống cấp nghiêm trọng, một số hạng mục có nguy cơ sụp đổ, gây mất an toàn cho người dân và du khách.
Di tích hiện do Ban Quản lý Di tích Lịch sử Cách mạng Côn Đảo quản lý.
Để bảo tồn và phát huy giá trị di tích, cần:
Giải pháp cấp thiết
Trùng tu đúng nguyên tắc bảo tồn, không làm mới, không thay đổi cấu trúc gốc.
Loại bỏ các hạng mục xây dựng chắp vá, không phù hợp với kiến trúc di tích.
Đánh giá hiện trạng và lập hồ sơ khoa học để phục dựng đúng nguyên mẫu.
Về kinh phí
Do ngân sách nhà nước chưa bố trí, việc huy động vốn xã hội hóa từ tổ chức, doanh nghiệp, cộng đồng và người dân trong cả nước là vô cùng quan trọng.
Đồng thời cần:
- Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cộng đồng trong gìn giữ di tích.
- Tăng cường hoạt động giáo dục văn hóa – lịch sử gắn với du lịch bền vững.
- Phát huy vai trò của người dân như chủ thể bảo tồn.
THIÊN ANH
Nguồn: Bảo tàng Bà Rịa – Vũng Tàu









