Lễ hội Đền Thanh Liệt, còn được gọi là Lễ hội rước Hến, là một sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng đặc sắc của cư dân vùng hạ lưu sông Lam, tỉnh Nghệ An. Lễ hội bắt nguồn từ tín ngưỡng thờ thần linh sông nước, thể hiện ước nguyện cầu cho mưa thuận gió hòa, trời yên sóng lặng, thủy sản sinh sôi, ngư dân làm ăn thuận lợi và cuộc sống làng xã bình an, thịnh vượng.
Lễ hội được tổ chức tại Đền Thanh Liệt, còn gọi là Đền Vạn, thuộc vùng đất Thanh Liệt xưa, nay là xã Hưng Nguyên Nam, tỉnh Nghệ An. Ngôi đền nằm hướng ra ngã ba sông, nơi sông Lam gặp sông La, thường được người dân gọi là Ngã ba Phủ, Bãi Phủ hoặc Tam Kỳ Giang. Đây là không gian linh thiêng gắn liền với đời sống, nghề nghiệp và ký ức văn hóa của cộng đồng cư dân vạn chài hai bên sông.
Lễ hội Đền Thanh Liệt đã được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 3609/QĐ-BVHTTDL ngày 27 tháng 9 năm 2018.
Nguồn gốc, không gian và ý nghĩa lễ hội
Lễ hội Đền Thanh Liệt thường diễn ra trong bốn ngày, từ ngày mùng 4 đến ngày mùng 7 tháng Hai âm lịch hằng năm, trong đó ngày mùng 6 là ngày hội chính với cuộc rước bộ và rước thủy đặc sắc. Đây là dịp những người dân làng chài Thanh Liệt dù sinh sống, làm ăn ở nhiều nơi vẫn trở về quê dự hội, tưởng nhớ các vị thần linh được thờ phụng tại đền và cùng nhau thực hiện những nghi lễ truyền thống của làng.
Đền Thanh Liệt thờ các vị phúc thần có công với dân, với nước, phần lớn là những vị thần thuộc hoặc có liên hệ với miền thủy phủ. Trong hệ thống thần linh được rước và phụng thờ có Nguyễn Biểu, Đức vua Thủy quốc, Đức vua Thiên vương, Sát Hải Đại vương Hoàng Tá Thốn, Sơn Liêu Độc Cước, Mẫu Liễu Hạnh cùng một số vị thần linh khác. Những nhân vật này phản ánh sự giao thoa giữa tín ngưỡng thờ thần sông nước, tín ngưỡng dân gian, đạo Mẫu và truyền thống tôn vinh các nhân vật có công bảo vệ cộng đồng.
Không gian chính của lễ hội là đoạn sông Lam dài khoảng 2,5 km, từ bến sông trước Đền Thanh Liệt đến Ngã ba Phủ. Toàn bộ các nghi lễ quan trọng đều gắn với dòng sông, bao gồm lễ Xổ dầm, lễ Chiêu nghinh, lễ Chính tế, lễ Chặt văng và cuộc rước thủy. Đối với cư dân vùng hạ lưu sông Lam, dòng sông không chỉ là tuyến giao thông và nơi mưu sinh mà còn là không gian sinh tồn, nơi cư ngụ của các thủy thần và các lực lượng siêu nhiên chi phối mùa màng, thời tiết, nguồn lợi thủy sản cũng như sự an nguy của con người.
Trước ngày hội chính, dân làng thực hiện nhiều công việc chuẩn bị công phu. Vào ngày mùng 1 tháng Hai âm lịch, Ban lễ nghi của làng tổ chức nghi thức cầu đồng để xin lời truyền hạ của thần linh về các nội dung cần chuẩn bị cho lễ hội. Tùy theo lời truyền, làng có thể phải làm thuyền rồng, cá “tam đầu cửu vĩ”, chuẩn bị lễ vật đặc biệt hoặc tổ chức các cuộc đua trải.
Một lễ vật quan trọng trong lễ hội là các bộ “cỗ báu ngọc”, loại đồ mã được làm cầu kỳ để dâng cúng Phật, Thánh, Thiên và Địa. Cỗ báu ngọc có hình dáng giống long ngai, được trang trí bằng hình rồng, lưỡng long chầu nguyệt, ngựa và những thoi vàng hoa nhiều màu sắc. Thông thường, mỗi loại được làm thành hai bộ, một bộ dùng để cúng trên thuyền và một bộ dùng tại đền, với cách trang trí khác nhau tùy theo vị thần được dâng lễ.
Để tham gia các nghi thức rước thủy và bơi trải, làng tuyển chọn 24 nam thanh nữ tú chưa lập gia đình, có sức khỏe tốt, gia đình không có tang. Ngoài ra, mỗi thuyền có thêm những người giàu kinh nghiệm sông nước đảm nhiệm việc chỉ huy, điều khiển và dẫn đường. Thuyền phục vụ lễ hội thường do các gia đình làm nghề sông nước tự nguyện đưa vào sử dụng.

Những nghi lễ đặc sắc trên sông Lam
Một trong những nghi lễ mở đầu là lễ Xổ dầm, hay còn gọi là lễ hạ thủy, được tổ chức vào chiều ngày mùng 4 tháng Hai. Nghi lễ nhằm kiểm tra sự an toàn của thuyền, xin phép thần linh cho các tay trải xuống sông bơi thử và luyện tập trước khi bước vào ngày hội chính. Đàn tế được lập tại khu vực bãi bồi ven sông, trước cột hương lộ thiên. Sau khi làm lễ khai quang đàn tế và khai quang thuyền trải, các tay bơi, tay chèo, người cầm lái và người cầm cờ hiệu lên thuyền để pháp sư làm lễ xin phép Long thần cho thuyền được hạ thủy, phụng nghinh thiên địa an toàn.
Khi thần linh được cho là đã nhập đồng, trống cái vang lên ba hồi, người cầm cờ hiệu phất cờ ra lệnh. Hai thuyền trải bắt đầu bơi trên sông, các tay trải vừa chèo vừa hò dô tạo nên bầu không khí náo nhiệt. Tiếng trống, tiếng mái chèo khua nước, tiếng gõ nhịp vào mạn thuyền và tiếng hò vang dội từ trên sông hòa cùng tiếng reo vui của người dân hai bên bờ.
Sáng ngày mùng 5, dân làng tiến hành nghi thức Phô trương hoặc Mộc dục. Khu vực đền được tổng vệ sinh, các đồ tế khí được lau chùi, sửa chữa và sắp đặt ngay ngắn. Nước dùng để lau chùi đồ thờ thường được lấy từ sông Lam tại Ngã ba Phủ, nấu cùng các loại lá thơm, thể hiện quan niệm thanh tẩy và làm sạch không gian thiêng trước ngày rước chính.
Sáng ngày mùng 6, lễ cáo điện hoặc yết cáo được tổ chức để xin phép thần linh và mời các vị thần lên kiệu. Đoàn rước bắt đầu từ sân đền, đi bộ ra bến sông khoảng 1 km. Trên đường đi có cờ hội, chiêng trống, đội bát âm, kiệu, đồ thờ, đồ tế khí, long chu bằng giấy, thuyền ngự và thuyền rồng. Khi đoàn rước bộ di chuyển, dưới sông, hai thuyền trải cũng bơi theo để hộ tống, vừa bơi vừa hát, tạo nên sự kết nối nhịp nhàng giữa rước bộ và rước thủy.
Tại bến sông, các đồ tế khí, long chu, kiệu ngự và thuyền ngự được chuyển lên những thuyền lớn đã trang trí cờ hoa rực rỡ. Đoàn thuyền thường gồm thuyền lái đi đầu, thuyền chở kiệu ngự và đàn tế ở giữa, thuyền chở ghe ngự đi sau, hai bên có thuyền trải hộ tống. Theo sau là thuyền của người dân các làng Thanh Liệt, Vũng Hà, Phù Long, Phù Thạch thuộc Nghệ An và Hà Tĩnh. Tất cả thuyền đều được kết hoa, treo cờ, thắp đèn nến, khói hương nghi ngút, tạo thành một đoàn rước thủy vừa linh thiêng vừa rực rỡ.
Đoàn rước đi ngược dòng về phía Tây, tiến lên khu vực “Thượng cận”, sau đó quay về “Hạ cận”, tức Ngã ba Phủ. Tại Thượng cận, Ban lễ nghi tổ chức lễ phát tấu chiêu nghinh, bày tỏ lòng biết ơn đối với các vị thần linh đã phù hộ cho dân làng một năm bình an, làm ăn thuận lợi, đồng thời cầu mong năm mới tiếp tục được che chở.
Trong các lễ vật dâng cúng tại Thượng cận, quả lót, còn gọi là quả nhót, có ý nghĩa đặc biệt đối với tín ngưỡng cầu ngư. Sau khi làm lễ, quả được thả xuống sông với mong muốn hến, cá, tôm và các loài thủy sản sinh sôi, phát triển. Trên thuyền còn có các bộ báu ngọc và áo Tam Thánh tượng trưng cho Mẫu Thiên, Mẫu Địa và Mẫu Thủy.
Khi đoàn rước từ Thượng cận trở về Hạ cận, trên thuyền tế vang lên những làn điệu chầu văn, phụng tán, kể về sự tích, công đức và sự linh thiêng của các vị thần. Đến giữa Ngã ba sông, đoàn thuyền neo lại để thực hiện lễ chiêu nghinh Hạ cận, lễ cầu yên, cầu ngư, lễ tiến thảo và lễ tống long chu. Đây là phần lễ quan trọng nhất, được chuẩn bị công phu với lễ vật mới, các hộp sớ và đàn tế trang trọng.
Nội dung chính của lễ tế là cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, trời yên sóng lặng, ngư dân đánh bắt được nhiều tôm cá, hến sinh sôi nảy nở, cuộc sống nhân dân được bình an và sung túc. Khi nghi thức nhập đồng diễn ra, hai thuyền trải bơi vòng quanh thuyền tế, vừa bơi vừa hò reo để phụng nghinh thánh đức.
Sau lễ nhập đồng là lễ tiến thảo, còn gọi là lễ tống ôn, nhằm tiễn trừ tai ương, dịch bệnh và những điều không may. Tiếp đó là lễ tống long chu. Một chiếc thuyền rồng bằng hàng mã đã được làm lễ điểm nhãn được thả xuống sông cùng cháo, gạo, muối, tiền vàng, hoa quả, đồ lễ và các vật phẩm phụng tán để gửi về thủy phủ. Nghi thức này đồng thời mang ý nghĩa cầu ngư, cầu mong nguồn lợi thủy sản dồi dào, người dân đánh bắt thuận lợi.
Sau khi hoàn thành nghi lễ tại Hạ cận, đoàn rước quay về bến sông, chuyển từ rước thủy sang rước bộ để trở về đền. Tại đền, các vị thần được làm lễ an vị, báo cáo và cảm tạ. Sau đó là lễ tế tiên hiền, nhằm tưởng nhớ các bậc tiền nhân, những người có công khai cơ lập làng, bảo vệ cuộc sống và gây dựng cộng đồng.
Sáng ngày mùng 7, lễ Chặt văng được tổ chức tại bãi sông trước làng, cũng là nơi diễn ra lễ Xổ dầm. Đây là nghi thức báo cáo với thần linh rằng lễ hội đã kết thúc, đồng thời xin phép hoàn trả thuyền bè, đồ tế khí và các phương tiện mà người dân đã đưa vào phục vụ lễ hội, để mọi người trở về cuộc sống thường nhật được bình an.
Phần hội và giá trị văn hóa của di sản
Sau các nghi lễ trang trọng, phần hội diễn ra sôi nổi tại bãi bồi ven sông Lam với những trò chơi dân gian gắn với nghề nghiệp và môi trường sinh tồn của cư dân sông nước. Các hoạt động tiêu biểu gồm thi bơi trải, cướp giải, thi lặn bắt hến, đua chèo lộn tiêu và đặc biệt là đua thuyền, còn gọi là đấu trạo.
Cuộc đua thường có bốn thuyền đua và bốn thuyền đạo. Thuyền đua là những chiếc thuyền lớn, có khoảng 12 tay chèo cùng một người đứng ở mũi thuyền để chỉ huy, đánh trống và hô khẩu lệnh. Thuyền đạo nhỏ hơn, chở các bà, các chị bơi theo để hát Ví, hát Giặm cổ vũ các đội đua. Những làn điệu dân ca xứ Nghệ vang lên giữa không gian sông nước làm cho cuộc đua thêm phần hào hứng và giàu bản sắc.
Trong quan niệm dân gian, đội thuyền nào giành được cột tiêu trong cuộc đua sẽ mang lại may mắn cho cả làng trong năm đó. Ngoài đua thuyền, cuộc thi cào hến cũng thu hút sự quan tâm của cộng đồng. Những thanh niên khỏe mạnh lặn xuống khu vực giữa sông để bắt hến, người bắt được nhiều nhất sẽ giành chiến thắng và nhận phần thưởng mang tính biểu trưng cho một năm làm ăn thuận lợi.
Lễ hội Đền Thanh Liệt là một trong những lễ hội dân gian tiêu biểu còn bảo lưu khá rõ nét tín ngưỡng thờ thủy thần và tư duy nghề nghiệp của cư dân vùng hạ lưu sông Lam. Các nghi lễ trên sông phản ánh mối quan hệ mật thiết giữa con người với thiên nhiên, đồng thời thể hiện mong muốn chế ngự những bất trắc của sông nước bằng niềm tin tâm linh và sức mạnh cộng đồng.
Lễ hội cũng là dịp để những người dân làng chài đang sinh sống ở nhiều nơi trở về quê hương, củng cố mối liên kết dòng họ, làng xóm và cộng đồng nghề nghiệp. Thông qua lễ hội, những phong tục, nghi lễ, dân ca, trò chơi dân gian và tri thức dân gian về sông nước được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đây cũng là không gian góp phần duy trì sự ổn định của làng xã, định hướng hành vi cá nhân và vun đắp tinh thần đoàn kết cộng đồng.
Với những giá trị đặc sắc về lịch sử, tín ngưỡng, văn hóa dân gian và đời sống cộng đồng, Lễ hội Đền Thanh Liệt đã được ghi danh vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2018 theo Quyết định số 3609/QĐ-BVHTTDL ngày 27 tháng 9 năm 2018.
Thông tin di sản
- Tên di sản: Lễ hội Đền Thanh Liệt
- Tên gọi khác: Lễ hội rước Hến
- Loại hình: Lễ hội truyền thống
- Địa điểm: Đền Thanh Liệt, xã Hưng Nguyên Nam, tỉnh Nghệ An
- Không gian tổ chức: Đền Thanh Liệt, bãi bồi ven sông Lam và đoạn sông từ bến đền đến Ngã ba Phủ
- Thời gian tổ chức: Từ ngày mùng 4 đến ngày mùng 7 tháng Hai âm lịch hằng năm; ngày mùng 6 là ngày hội chính
- Đối tượng thờ phụng: Các vị phúc thần, thủy thần và những vị thần liên quan đến miền thủy phủ như Nguyễn Biểu, Đức vua Thủy quốc, Đức vua Thiên vương, Hoàng Tá Thốn, Sơn Liêu Độc Cước, Mẫu Liễu Hạnh
- Di tích: Đền Thanh Liệt, còn gọi là Đền Vạn
- Năm xếp hạng di tích: Chưa có thông tin cụ thể trong tư liệu
- Năm ghi danh di sản phi vật thể quốc gia: 2018
- Giá trị tiêu biểu: Tín ngưỡng thờ thủy thần, văn hóa cư dân sông nước, dân ca Ví Giặm, nghi lễ rước thủy, trò chơi dân gian và tinh thần cố kết cộng đồng
- Văn bản ghi danh: Quyết định số 3609/QĐ-BVHTTDL ngày 27/9/2018











