Bên dòng sông cổ Đỗ Động thuộc thôn Song Khê, xã Tam Hưng, Thành phố Hà Nội, chùa Bối Khê (tên chữ là Đại Bi tự, dân gian quen gọi là chùa Bối hay chùa Hai Chuông) đứng uy nghiêm như một chứng nhân lịch sử. Vượt lên khuôn khổ của một chốn thiền môn, ngôi cổ tự thời Trần này vừa là một bảo tàng kiến trúc điêu khắc qua nhiều triều đại, vừa là điểm hội tụ của tín ngưỡng “tiền Phật, hậu Thánh” độc đáo cùng những trầm tích văn hóa dân gian xứ Đoài.
Cổ tự thời Trần trên thế đất đầu phượng hoàng
Ca dao vùng đất Thanh Oai xưa còn lưu truyền câu hát: “Đỗ Động giang khai, Thanh Oai hiển thánh”. Dòng Đỗ Động giang cổ chảy từ Cao Bộ xuống Từ Châu rồi đổ ra sông Nhuệ, bồi đắp nên vùng đất giàu truyền thống văn hóa. Chùa Bối Khê được khởi dựng từ thời Trần, nằm trên trục thần đạo Tây – Đông và tọa lạc trọn vẹn theo thế đất phong thủy “Phượng chủy” (đầu chim phượng):
- Phía trước là khoảng không thoáng đãng ven bờ sông Đỗ Động cổ;
- Cây cầu gạch ba nhịp nối liền Ngũ môn quan với Tam quan uốn cong tựa mỏ phượng;
- Hai giếng đá cổ nằm áp hai bên sườn Tam bảo như đôi mắt phượng sáng rực;
- Dải đất hình tam giác trải dài sang làng Hưng Giáo biểu trưng cho đuôi phượng uốn lượn.
Bố cục tổng thể của ngôi chùa tuân thủ nghiêm cẩn dạng thức “Nội (nhị) công ngoại quốc” bề thế, gồm các công trình nối tiếp nhau: Đền Đức Ông, vườn tháp, Ngũ môn quan, cầu gạch, Tam quan, sân chùa với sập đá cổ, Chùa Phật (chữ Công), Điện Thánh (chữ Công), tả hữu hành lang khép kín bao quanh (chữ Quốc), cùng khu nhà bia, nhà Tổ – Mẫu và nhà khách.
Không gian kiến trúc: Đấu củng hiếm có và nghệ thuật tạo hình
Chùa Bối Khê là một trong số ít công trình tôn giáo cổ ở đồng bằng Bắc Bộ còn bảo lưu nguyên vẹn nhiều tầng cấu kiện kiến trúc, điêu khắc từ thời Lý – Trần qua thời Mạc, Lê Trung Hưng tới thời Nguyễn.
Trục cảnh quan tiền diện
Ngũ môn quan: Công trình gạch đồ sộ dựng theo trục chính đạo gồm năm cổng. Cổng chính nổi bật với quy mô hai tầng tám mái, vòm cuốn vững chãi chịu lực cho tầng trên. Tầng hai đắp bờ mái giả ngói ống với các góc đao cong vút, đầu kìm đắp hình rồng và hệ thống cổ diêm chạm đắp tứ linh, tứ quý phối gốm sứ men lam.
Cầu gạch & Tam quan: Cây cầu gạch chỉ uốn ba nhịp bắc qua nhánh ngòi cổ dẫn thẳng tới Tam quan kiêm gác chuông. Phía trước Tam quan lưu lại hai phiến đá xanh in dấu chân tích của Đức Thánh Bối. Bộ khung gỗ Tam quan có gốc tích từ thời Lê, kết cấu một gian hai chái với 4 cột cái và 12 cột quân, liên kết bền vững qua hệ thống xà đai, câu đầu, rường và trụ trốn.
Sập đá sân chùa: Đặt trang trọng ở trung tâm sân chùa, cách tiền đường hơn 6m. Sập đá dạng khối hộp hình chữ nhật, chân quỳ dạ cá chạm khắc rồng chầu đuôi xoắn, rồng mặt hổ phù và hoa sen cách điệu – đây là nơi tôn trí kiệu Đức Thánh Bối trong các ngày đại lễ.
Cụm Chùa Phật (Mặt bằng chữ Công)
Gồm ba tòa liên kết: Tiền đường (7 gian), Thiêu hương (2 gian) và Thượng điện (1 gian 2 chái). Điểm đặc sắc mang đậm dấu ấn thời Trần là mặt nền Thượng điện được tôn cao gần 1m so với nền Tiền đường.
Bộ vì và kỹ thuật mộng: Khung gỗ liên kết qua hệ thống câu đầu ăn mộng xẻ đầu cột (ở Tiền đường, Thiêu hương) hoặc đấu vuông (ở Thượng điện), phối hợp ba kiểu liên kết kinh điển: chồng rường giá chiêng, thượng rường hạ kẻ và kẻ chuyền.
Mỹ thuật trang trí: Tiền đường chạm các đồ án tứ linh, tứ quý và tích truyện thầy trò Đường Tăng; trong khi Thượng điện tập trung các mảng điêu khắc lá đề thời Trần viền lửa, bên trong chạm rồng chầu hoa sen, mặt ngoài chạm đôi chim phượng vút cánh bay. Đầu bẩy chạm rồng đỡ đấu, và đặc biệt nơi góc đao mái vẫn còn nguyên vẹn tượng chim thần Garuda tạc bằng gỗ trong tư thế khuỳnh chân, vươn tay đỡ mái đao – sự kết hợp mỹ thuật Champa và Đại Việt đặc sắc.
Cụm Điện Thánh & Tuyệt tác đấu củng Hậu cung
Điện Thánh nằm sau Chùa Phật, gồm ba tòa Đại bái (9 gian), Ống muống (1 gian) và Hậu cung (gần vuông) tạo thành mặt bằng chữ Công thứ hai. Nếu Đại bái để thông thoáng không cửa thì Hậu cung lại được khép kín bằng hệ thống ván bưng, ván đố lụa soi vỏ măng trang nghiêm.
Điểm nhấn đấu củng thế kỷ XVII: Hậu cung kết cấu hai tầng tám mái với hệ thống cụm đấu củng chịu lực quý hiếm bậc nhất Việt Nam. Bắt đầu từ đấu vuông thót đáy nâng đỡ hệ xà dọc đa tầng, các cụm đấu củng vươn ra gánh đỡ tầng mái và xà đỡ. Người thợ Việt xưa đã sáng tạo khi trang trí đầu rồng mây cuộn trên thân xà và dùng tầng củng trên mặt khung để đội các hình chạm linh vật, tạo nét biểu cảm mềm mại khác biệt hoàn toàn với đấu củng phong cách phương Bắc.
Pho sử sống về di vật và mỹ thuật điêu khắc
Hệ thống đồ thờ và tượng pháp tại Bối Khê gồm 92 pho tượng cổ, lưu giữ nhiều kiệt tác điêu khắc của dân tộc:
Bệ đá hoa sen thời Trần (1382): Ngự tại nơi thâm nghiêm nhất của Thượng điện. Thân bệ chia ô chạm khắc rồng chầu lá đề, linh thú hươu ngậm cành hoa và minh văn chữ Hán năm Xương Phù thứ 6. Bốn góc bệ tạc tượng thần điểu Garuda dạng người quỳ dang rộng cánh, cơ thể vạm vỡ nâng đài sen ba lớp cánh. Phần móng đế còn xuất hiện mảng chạm hoa văn mang phong cách thời Lý.
Tượng Quan Âm thiên thủ thiên nhãn thời Mạc (thế kỷ XVI): Tôn trí ngay trên bệ đá hoa sen thời Trần. Pho tượng gỗ phủ sơn cao 2,53m, ngồi bán kiết già với 14 cánh tay kết ấn đối xứng mềm mại, nếp áo lượn sóng phủ qua đài sen quỷ đội, toát lên vẻ trang nghiêm và từ bi vô lượng.
Bộ tượng Di Đà Tam Tôn (thế kỷ XVI – XVII): Đức Phật A Di Đà ngồi tọa thiền trên tòa sen cao nhất, cổ đeo vòng trang trí hoa mai và dây anh lạc quý phái, ngón tay đan kết đeo nhẫn hoa cúc mãn khai.
Hệ thống tượng đất: 10 pho tượng Thập điện Diêm Vương và 18 pho tượng La Hán bằng đất nung luyện thế kỷ XIX chạy dọc hai bên hành lang với đường nét biểu cảm sống động.
Khám thờ Đức Thánh Bối: Tôn trí tại Hậu cung Điện Thánh, ghép ván với cửa bức bàn khép kín, diềm khám chạm khắc rồng chầu mặt nguyệt đuôi xoắn tinh xảo thời Nguyễn.
Đức Thánh Bối, tục “kết chạ” anh em và nghi lễ cầu mưa
Chùa Bối Khê là hình mẫu điển hình của tín ngưỡng “Tiền Phật, hậu Thánh”. Phía sau thờ Đức Thánh Bối Nguyễn Bình An – vị cao tăng thời Trần quê gốc làng Bối Khê, tu hành và đắc đạo tại chùa Trăm Gian (xã Tiên Phương, huyện Chương Mỹ). Sinh thời, ngài nổi tiếng với phép Đảo Vũ giải hạn cho kinh thành Thăng Long được vua Trần Anh Tông ban danh hiệu “Đức Minh Châu Nhân”, cũng như hiển linh dấy cuồng phong đánh tan quân giặc Minh xâm lược.
Từ huyền tích ngày hóa thân của Thánh Bối, mối lương duyên giữa hai ngôi cổ tự đã kết tinh thành tục kết chạ thiêng liêng giữa làng Bối Khê và vùng Tiên Lữ (Tứ Bích) kéo dài hàng trăm năm:
Nghi lễ “Chứa sãi”: Hằng năm, sáng mùng 4 tháng Giêng, đoàn đại biểu Bối Khê (“sãi quan anh”) sang dự hội chùa Trăm Gian; đến sáng 12 tháng Giêng, đoàn đại biểu Tiên Lữ lại sang dự hội chùa Bối Khê. Nghi lễ đón tiếp diễn ra trang trọng, tôn kính; các bên chuẩn bị mâm cỗ chay vuông hai tầng chu đáo và tặng nhau cây giống, hoa cảnh để thắt chặt tình nghĩa huynh đệ.
Hội thi pháo màn than & Lễ cầu mưa: Lễ hội chùa Bối Khê diễn ra từ mùng 10 đến 12 tháng Giêng. Nét đặc sắc nhất trong ký ức dân gian là tục đốt pháo màn than trên ngọn tre cao 15–17m. Quả pháo thăng thiên dẫn lửa làm bùng cháy màn than, kích nổ dây pháo con và pháo đại. Màn than đen tượng trưng cho mây ngưng tụ, vệt cháy là tia chớp, tiếng nổ dòn dã là sấm rền gọi mưa rào – nghi lễ tâm linh gắn bó mật thiết với cư dân nông nghiệp lúa nước ven sông Đỗ Động.
Dấu mốc Di tích quốc gia đặc biệt
Với hệ thống di sản kiến trúc gỗ, nghệ thuật đấu củng và kho tàng cổ vật độc bản, sau khi được Bộ Văn hóa và Thông tin xếp hạng di tích quốc gia từ năm 1979, ngày 17/01/2025, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 152/QĐ-TTg chính thức công nhận Chùa Bối Khê là Di tích quốc gia đặc biệt.
Sự kiện đón nhận Bằng xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt tổ chức vào ngày 07/02/2025 (tức mùng 10 tháng Giêng năm Ất Tỵ) không chỉ là niềm tự hào của nhân dân xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai, mà còn là mốc son khẳng định vị thế của ngôi già lam cổ tự bên bờ Đỗ Động giang – một kiệt tác kiến trúc nghệ thuật trường tồn cùng dòng chảy văn hóa ngàn năm của Thăng Long – Hà Nội.










