Đức Vương Ngô Quyền là một trong 14 vị Anh hùng dân tộc tiêu biểu của Việt Nam, được tôn vinh là “vua đứng đầu các vua”, “vị Tổ Trung hưng” của đất Việt. Năm 938, dưới sự lãnh đạo của Ngô Quyền, quân dân ta đã đánh bại quân Nam Hán trong trận chiến trên sông Bạch Đằng, chấm dứt hơn một nghìn năm Bắc thuộc, mở ra thời kỳ độc lập, tự chủ lâu dài của dân tộc và tạo tiền đề cho sự phát triển của các triều đại phong kiến Việt Nam sau này.
Từ Lương Xâm là vùng đất gắn trực tiếp với cuộc kháng chiến chống quân Nam Hán năm 938. Theo truyền thống lịch sử, đây là nơi Ngô Quyền lựa chọn dựng đại bản doanh, đắp thành Vành Kiệu và tổ chức lực lượng trước khi tiến hành trận quyết chiến trên sông Bạch Đằng. Với vị trí đặc biệt trong hệ thống các di tích thờ Đức Vương Ngô Quyền tại Hải Phòng, Từ Lương Xâm được suy tôn là “Từ Cả”, tức nơi đứng đầu trong các di tích thờ Ngô Quyền.
Di tích Từ Lương Xâm từng là một trong “Tứ linh từ” của huyện cổ An Dương. Ngày nay, di tích cùng Phủ Thượng Đoạn và Đền Phú Xá tạo thành ba “Linh từ” của khu vực Hải An, là những địa điểm quan trọng trong đời sống văn hóa, tín ngưỡng gắn với Đức Vương Ngô Quyền.
Lịch sử Cụm di tích Từ Lương Xâm
Năm 938, trước nguy cơ quân Nam Hán tiến vào nước ta, Ngô Quyền đã lựa chọn vùng cửa biển và khu vực ven sông Bạch Đằng làm địa bàn chuẩn bị cho trận quyết chiến. Từ Lương Xâm được xác định là nơi ông đặt đại bản doanh, tổ chức lực lượng và chuẩn bị các điều kiện cho cuộc kháng chiến.
Từ căn cứ này, quân đội của Ngô Quyền triển khai lực lượng, chuẩn bị trận địa và tiến ra sông Bạch Đằng. Với nghệ thuật quân sự độc đáo, Ngô Quyền đã cho đóng cọc gỗ xuống lòng sông, lợi dụng thủy triều để nhử quân Nam Hán vào trận địa. Khi nước triều rút, quân ta tổng công kích, đánh tan lực lượng xâm lược.
Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 có ý nghĩa đặc biệt trong lịch sử Việt Nam. Quân Nam Hán bị đánh bại, Hoằng Tháo tử trận, âm mưu xâm lược nước ta bị chặn đứng. Chiến thắng này tạo bước ngoặt lớn, chấm dứt thời kỳ Bắc thuộc kéo dài và mở ra thời đại độc lập, tự chủ của dân tộc.
Trong ký ức lịch sử và tín ngưỡng của cộng đồng, Từ Lương Xâm vì thế trở thành địa điểm gắn liền với sự nghiệp của Đức Vương Ngô Quyền. Qua nhiều thế hệ, nhân dân lập đền thờ và duy trì các nghi lễ tưởng niệm nhằm ghi nhớ công lao của vị anh hùng dân tộc.
Năm 1986, tại Quyết định số 235/VH-QĐ ngày 12/12/1986, Bộ Văn hóa đã xếp hạng khu vực Từ Lương Xâm – Căn cứ bản doanh của Ngô Quyền năm 938 là di tích lịch sử cấp quốc gia, với địa danh khi đó thuộc xã Nam Hải, huyện An Hải.
Trải qua nhiều thế kỷ, di tích tiếp tục được bảo tồn, tu bổ và bổ sung nhiều công trình, hiện vật có giá trị. Hệ thống kiến trúc, đồ thờ tự, sắc phong, bia đá, cổ vật và các cấu kiện gỗ chạm khắc tại đây phản ánh quá trình tồn tại và phát triển của di tích qua nhiều thời kỳ lịch sử, trong đó nổi bật là nghệ thuật thời Lê Trung hưng thế kỷ XVII và thời Nguyễn thế kỷ XIX, XX.
Kiến trúc Cụm di tích Từ Lương Xâm
Hiện nay, di tích có diện tích khoảng 36.747m², tọa lạc trên khu đất cao, thoáng và quay hướng Đông. Tổng thể kiến trúc được bố cục theo kiểu “Nội công ngoại quốc”, gồm Nghi môn, Tiền tế, Thiêu hương, hai tòa Giải vũ, Từ chính, tượng đài cùng các công trình phụ trợ.
Nghi môn và giếng Mắt rồng
Nghi môn của di tích gồm hai lớp là Nghi môn nội và Nghi môn ngoại. Hai công trình có kiểu thức tương đồng, đều được thiết kế ba cửa và xây dựng bằng gạch.
Chính môn là khoảng không gian nằm giữa hai cột đồng trụ xây cao. Trên đỉnh Nghi môn ngoại đặt đôi nghê trong tư thế chầu vào lòng cổng. Tả môn và hữu môn được xây theo lối Nhà chè.
Qua Nghi môn ngoại là hai giếng nhỏ nằm đối xứng hai bên, được người dân gọi là giếng Mắt rồng. Hai giếng có nước ngọt quanh năm và gắn với truyền thuyết về thời kỳ Ngô Quyền đóng quân tại Từ Lương Xâm.
Theo truyền tụng, khi xây dựng đại bản doanh, Ngô Quyền đã cho quân lính đào hai giếng để lấy nước phục vụ sinh hoạt. Những dấu tích này góp phần làm rõ hơn mối liên hệ giữa không gian di tích hiện nay với truyền thuyết và ký ức cộng đồng về căn cứ của Ngô Quyền trước trận Bạch Đằng năm 938.
Tiền tế
Tiền tế có mặt bằng hình chữ nhật, nền rộng khoảng 9m x 18m, gồm 5 gian. Công trình được xây theo kiểu tường hồi bít đốc, bốn mái, kết cấu dạng “chéo đao tàu góc”, mái lợp ngói mũi hài.
Bờ nóc được trang trí hình lưỡng long chầu hổ phù đội quả lôi và kìm nóc. Nền Tiền tế cao hơn nền sân khoảng 0,35m.
Bộ khung chịu lực được dựng trên 24 cột gỗ lim, liên kết thành 6 bộ vì chắc khỏe. Các bộ vì được làm theo kiểu 4 hàng chân cột, gồm 2 hàng cột cái và 2 hàng cột quân. Các cột được kê trên những chân tảng đá xanh có nhiều niên đại, kéo dài từ khoảng thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX. Chân tảng được đục giật cấp, cấp dưới cùng hình vuông, cấp trên cùng tạo hình tròn.
Hai bộ vì ở gian trung tâm có cấu trúc và hệ thống hoa văn trang trí tương đồng. Phía trên, giữa hai cột cái là vì nóc theo kiểu “chồng rường biến thể giá chiêng”. Các con rường chồng lên nhau thông qua những đấu vuông thót đáy, có chức năng nâng đỡ hoành mái.
Rường được tạo theo dạng “rường bụng lợn”, phần giữa võng xuống. Phía trên cùng là đấu kê dạng khối vuông đỡ thượng lương. Hai đầu các con rường được khoét ổ để đỡ hoành mái. Phía dưới câu đầu, bốn đầu dư được chạm thủng kết hợp chạm bong kênh hình rồng.
Đáng chú ý là hệ thống vì nách ở gian trung tâm được làm theo kiểu “ván mê”, hai mặt chạm khắc dày đặc với nhiều đề tài phong phú. Nổi bật là hình tượng rồng ẩn trong mây, được thể hiện trong bố cục tứ linh.
Trên các bức cốn, rồng được thể hiện trong tư thế đạp chân lên những cuộn mây, vươn đầu ra phía trước. Đầu rồng lớn, miệng rộng, mắt tròn lồi, mũi lớn, bờm tóc bay ngược về phía sau.
Đối xứng với rồng là hình tượng lân có thân tròn, phủ kín vảy, lưng mang yên và đuôi dài tỏa ra ba nhánh. Phượng và rùa được thể hiện ở những vị trí khiêm tốn hơn. Phượng có đôi chân dài, mảnh, cánh vươn rộng; rùa ẩn dưới lá sen rủ, đầu ngóc vươn ra khỏi lá.
Ba mảng chạm còn lại cũng thể hiện các linh vật trong bố cục tứ linh với những dáng vẻ sinh động, tạo nên hệ thống trang trí có giá trị nghệ thuật cao.
Ở các gian bên, bốn bộ vì còn lại được kết cấu tương đồng với vì nóc gian trung tâm theo kiểu “chồng rường biến thể giá chiêng”, vì nách kiểu “chồng rường”. Hoa văn trang trí được tiết chế hơn, chủ yếu là lá lật, mây cụm và cánh sen.
Thiêu hương
Thiêu hương nằm ở vị trí trung tâm của tổng thể kiến trúc, nền cao hơn sân khoảng 0,4m. Công trình được kết cấu theo kiểu phương đình, với bộ khung chịu lực gồm 4 cột gỗ lim đứng trên 4 chân tảng đá xanh kiểu cổ bồng.
Các cột được liên kết bằng hệ thống xà ngang và kẻ góc thu về nóc, tạo thành hai tầng mái kiểu chồng diêm. Mái lợp ngói mũi hài, bờ nóc và các góc đao trang trí kìm nóc, rồng, mây hóa phượng cách điệu.
Bên trong Thiêu hương hiện đặt một cỗ kiệu bát cống lớn, được sử dụng để phục vụ việc rước Thành hoàng trong các dịp lễ hội của di tích.
Từ chính
Từ chính có bố cục mặt bằng kiểu chữ Đinh, gồm 5 gian với Đại bái và Chuôi vồ.
Đại bái có nền cao hơn nền Tiền tế khoảng 0,4m. Phía trước được bó kè bằng các phiến đá xanh, xây giật ba cấp tạo thành hệ thống bậc lên xuống.
Bộ khung chịu lực chính bằng gỗ, gồm 6 bộ vì theo kiểu 4 hàng chân cột, với 2 hàng cột cái và 2 hàng cột quân. Vì nóc Đại bái được làm theo kiểu “chồng rường giá chiêng”, vì nách kiểu “chồng rường”.
Riêng bộ vì nách gian trung tâm được nong ván mê, chạm nổi các đề tài tứ linh, tứ quý và hoa văn kỷ hà với cách thể hiện tương đối giản lược.
Chuôi vồ có nền cao hơn nền Đại bái khoảng 0,2m, gồm 3 gian thờ dọc. Công trình xây kiểu tường hồi bít đốc và nối vuông góc với Đại bái tại khoảng giữa.
Chuôi vồ có 4 bộ vì theo kiểu 4 hàng chân cột. Vì nóc được làm theo kiểu “chồng rường giá chiêng”, vì nách kiểu “chồng rường”.
Bộ vì nóc gian thứ hai tính từ trong ra được nong ván tạo diện trang trí hình lá hóa, hổ phù và chim phượng. Bộ vì này đồng thời là giới hạn ngăn cách giữa không gian bên ngoài và khu vực thờ tượng Đức Vương Ngô Quyền.
Hệ thống cửa được sơn son thếp vàng. Hai cửa bên chạm khắc các đề tài tứ quý, cửa gian giữa làm kiểu bốn cánh, trang trí hình lưỡng long chầu nhật.
Hai tòa Giải vũ
Hai tòa Giải vũ nối hai hồi Tiền tế với Đại bái, tạo thành tổng thể kiến trúc theo kiểu “Nội công ngoại quốc”, liên hoàn và khép kín với Thiêu hương ở trung tâm.
Hai Giải vũ được xây đối xứng hai bên trục thần đạo. Mỗi tòa gồm một gian, hai chái, mái chảy. Bộ khung chịu lực bằng gỗ lim, các bộ vì để trơn, không trang trí cầu kỳ.
Phía trước các tòa Giải vũ để trống, phần hồi mở các cửa vòm nhằm tạo sự thuận tiện cho việc di chuyển giữa các công trình trong tổng thể di tích.
Giải vũ bên phải theo hướng nhìn của di tích hiện lưu giữ 3 chiếc cọc Bạch Đằng. Đây là những hiện vật gợi nhắc đến chiến thắng của quân dân ta trên sông Bạch Đằng năm 938.
Giải vũ bên trái đặt một chiếc thuyền rồng lớn bằng gỗ, mang ý nghĩa biểu tượng cho chiến thắng Bạch Đằng và sự nghiệp của Đức Vương Ngô Quyền.
Lễ hội Từ Lương Xâm
Lễ hội Từ Lương Xâm được tổ chức hằng năm vào tháng Giêng tại di tích, nhằm tưởng niệm Đức Vương Ngô Quyền và tri ân vị anh hùng dân tộc có công lãnh đạo quân dân đánh bại quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938.
Lễ hội là sinh hoạt văn hóa truyền thống được cộng đồng địa phương duy trì qua nhiều thế hệ. Đây không chỉ là dịp để nhân dân dâng hương tưởng nhớ Đức Vương Ngô Quyền mà còn là không gian sinh hoạt văn hóa cộng đồng, góp phần gìn giữ các nghi lễ, phong tục và ký ức lịch sử gắn với vùng đất Từ Lương Xâm.
Trong thời gian diễn ra lễ hội, các nghi lễ tưởng niệm và hoạt động văn hóa được tổ chức tại khu di tích. Phần lễ thể hiện sự thành kính của cộng đồng đối với Đức Vương Ngô Quyền, với các nghi thức dâng hương, tế lễ và rước được thực hiện theo truyền thống. Phần hội có các hoạt động văn hóa, văn nghệ và trò chơi dân gian, tạo không khí sinh hoạt cộng đồng và thu hút nhân dân địa phương cùng du khách tham dự.
Một nội dung có ý nghĩa đặc biệt trong lễ hội là tưởng niệm chiến công Bạch Đằng năm 938. Hình ảnh Đức Vương Ngô Quyền, căn cứ bản doanh tại Từ Lương Xâm và chiến thắng trước quân Nam Hán được nhắc nhớ thông qua hệ thống nghi lễ, hoạt động văn hóa và không gian thờ tự của di tích.
Lễ hội Từ Lương Xâm góp phần kết nối di sản vật thể với di sản văn hóa phi vật thể. Nếu hệ thống đền, kiến trúc, bia đá, sắc phong, đồ thờ tự và hiện vật lưu giữ những dấu tích của lịch sử thì lễ hội tiếp tục đưa những giá trị ấy vào đời sống cộng đồng, tạo sự gắn kết giữa các thế hệ trong việc tưởng nhớ và phát huy truyền thống.
Năm 2022, Lễ hội truyền thống Từ Lương Xâm được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Đây là sự ghi nhận đối với giá trị lịch sử, văn hóa và sức sống cộng đồng của lễ hội, đồng thời tạo cơ sở cho việc bảo tồn, truyền dạy và phát huy các giá trị truyền thống gắn với di tích.
Ngày nay, lễ hội không chỉ có ý nghĩa trong đời sống tín ngưỡng của người dân địa phương mà còn góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, giúp thế hệ trẻ hiểu hơn về Đức Vương Ngô Quyền, chiến thắng Bạch Đằng năm 938 và vai trò của vùng đất Từ Lương Xâm trong lịch sử dân tộc.
Giá trị lịch sử và văn hóa
Từ Lương Xâm có vị trí đặc biệt trong hệ thống di tích gắn với Đức Vương Ngô Quyền tại Hải Phòng. Không chỉ là nơi thờ phụng vị anh hùng dân tộc có công lớn trong việc giành lại nền độc lập, di tích còn lưu giữ những dấu tích, truyền thuyết và hiện vật gắn với cuộc kháng chiến chống quân Nam Hán năm 938.
Hệ thống kiến trúc hiện còn tại di tích phản ánh quá trình hình thành, tu bổ và phát triển của một không gian thờ tự qua nhiều thế kỷ. Các cấu kiện kiến trúc bằng gỗ, đá, hệ thống bia, sắc phong, đồ thờ tự và các tác phẩm chạm khắc cho thấy sự tiếp nối của nhiều phong cách nghệ thuật, đặc biệt là nghệ thuật thời Lê Trung hưng và thời Nguyễn.
Những hình tượng rồng, lân, phượng, rùa, hoa sen, mây cụm, lá hóa và các mô típ truyền thống được thể hiện trên kiến trúc không chỉ có giá trị trang trí mà còn phản ánh quan niệm thẩm mỹ, tín ngưỡng và tư tưởng của cộng đồng qua từng thời kỳ.
Bên cạnh giá trị vật thể, các nghi lễ thờ Đức Vương Ngô Quyền và Lễ hội Từ Lương Xâm tạo nên một không gian văn hóa có tính cộng đồng cao. Qua đó, những ký ức về chiến thắng Bạch Đằng và công lao của Ngô Quyền tiếp tục được gìn giữ, trao truyền và phát huy trong đời sống đương đại.
Di tích quốc gia đặc biệt
Từ những giá trị nổi bật về lịch sử, văn hóa, kiến trúc nghệ thuật và sự gắn kết với cuộc kháng chiến chống quân Nam Hán năm 938, Cụm di tích Từ Lương Xâm – Căn cứ bản doanh của Ngô Quyền năm 938 được Nhà nước đặc biệt quan tâm trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị.
Ngày 17/01/2025, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 152/QĐ-TTg xếp hạng Cụm di tích Từ Lương Xâm – Căn cứ bản doanh của Ngô Quyền năm 938 là di tích quốc gia đặc biệt.
Ngày 12/02/2025, quận Hải An, thành phố Hải Phòng tổ chức Lễ đón nhận Bằng công nhận Di tích quốc gia đặc biệt đối với Cụm di tích Từ Lương Xâm – Căn cứ bản doanh của Ngô Quyền năm 938.
Việc được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt là sự ghi nhận đối với những giá trị tiêu biểu của Từ Lương Xâm trong hệ thống di sản lịch sử, văn hóa của Hải Phòng nói riêng và Việt Nam nói chung. Đây đồng thời là cơ sở quan trọng để tiếp tục bảo tồn cảnh quan, kiến trúc, hiện vật và các giá trị văn hóa phi vật thể gắn với di tích.
Cụm di tích Từ Lương Xâm – Căn cứ bản doanh của Ngô Quyền năm 938 hôm nay là một địa chỉ quan trọng trong hành trình tìm hiểu về Đức Vương Ngô Quyền, chiến thắng Bạch Đằng năm 938 và bước chuyển lớn của lịch sử Việt Nam từ thời kỳ Bắc thuộc sang thời kỳ độc lập, tự chủ. Những giá trị được lưu giữ tại đây góp phần giúp các thế hệ hôm nay và mai sau hiểu hơn về lịch sử dân tộc, truyền thống yêu nước và ý thức hướng về cội nguồn của cộng đồng.










