Đền An Xá

Đền An Xá, còn gọi là Đền Đậu An, tên chữ là Thụy Ứng Quán, tọa lạc tại thôn An Xá, xã Hoàng Hoa Thám, tỉnh Hưng Yên. Đây là một di tích đặc biệt tiêu biểu cho sự giao thoa giữa tín ngưỡng dân gian bản địa với văn hóa Đạo giáo trong lịch sử hình thành và phát triển đời sống tinh thần của cư dân vùng đồng bằng Bắc Bộ.

Theo truyền thuyết, tư liệu còn lưu giữ tại di tích và lời kể của các bậc cao niên, Đền An Xá là nơi thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế, Ngũ Lão Tiên Ông cùng các vị Thiên Tiên, Địa Tiên. Các vị thần được người dân tôn kính bởi truyền thuyết cho rằng họ có công khai phá vùng đầm lầy hoang vu, diệt trừ thú dữ, dạy dân cày cấy, lập làng, dựng Thụy Ứng Quán và phù trợ cho cuộc sống bình an, mùa màng thuận lợi.

Tên gọi Đậu An được giải thích theo cách gọi dân gian, trong đó “Đậu” gắn với tên xóm và “An” mang ý nghĩa bình an, yên ổn. Trong hệ thống các di tích tín ngưỡng của vùng Phù Tiên xưa, Đậu An là một trong số ít những di tích mang tên “Đậu” còn tồn tại đến ngày nay.

Lịch sử và không gian di tích

Đền An Xá được cho là khởi dựng khá sớm, muộn nhất vào khoảng thế kỷ XVI đến XVII và đã trải qua nhiều lần trùng tu, tôn tạo. Di tích được xây dựng trên một khu đất cao có hình thế được ví như đầu rồng ở phía Tây làng An Xá. Phía trước đền là hồ nước, xung quanh có cây cổ thụ và hệ thống thủy vực, tạo nên cảnh quan được người dân quan niệm là thế “tụ thủy, tụ phúc”.

Mặt tiền đền quay về hướng Nam. Khu di tích được bố trí theo một trục thần đạo với nhiều công trình nằm đan xen, tạo thành một quần thể tín ngưỡng tương đối hoàn chỉnh. Trung tâm là đền chính gồm Tiền tế, Ống muống và Hậu cung. Hai bên có Đền Hạ, Đền Kỷ niệm và các dãy Giải vũ. Gần Tam quan có Đền Mẫu và Đền Thiên Quan. Ngoài khu vực đền chính còn có Đình Vô và Đình Căn.

Khu vực bảo vệ di tích có tổng diện tích hơn 20.000 m², trong đó khu vực bảo vệ I khoảng 14.755,6 m² và khu vực bảo vệ II khoảng 5.329,4 m².

Tam quan

Tam quan Đền An Xá được xây dựng trên mặt bằng hình vuông, gồm ba cửa ra vào và hai tầng mái. Bốn góc có các cột đồng trụ lớn, phần đỉnh trang trí hình phượng, phía dưới là các ô lồng đèn với đề tài tứ linh. Mái Tam quan lợp ngói mũi hài, các thân trụ được trang trí bằng câu đối chữ Hán.

Tam quan còn là nơi treo một quả chuông đồng cổ cao khoảng 1,7 m, nặng khoảng 880 kg, được đúc vào năm Cảnh Hưng thứ 34, tức năm 1773, dưới triều Hậu Lê. Tiếng chuông từng là một phần không thể thiếu trong đời sống tín ngưỡng của cộng đồng dân cư nơi đây.

Đền chính

Đền chính có bình đồ gồm Tiền tế, Ống muống và Hậu cung.

Tòa Tiền tế gồm 5 gian, dài khoảng 20,6 m, rộng 8,05 m và cao 9,79 m. Công trình có kết cấu bốn hàng chân cột, các bộ vì nóc được tạo tác theo kiểu “chồng rường giá chiêng”, vì nách theo kiểu “bán chồng rường”. Các cấu kiện gỗ và hệ thống trang trí mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XIX và XX, tập trung vào các đề tài linh vật, lá lật và vân xoắn.

Không gian trung tâm đặt ban thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế, hai gian bên thờ các vị Thiên Tiên, Địa Tiên. Trong tòa Tiền tế còn lưu giữ nhiều hoành phi, câu đối và đồ thờ có giá trị.

Đặc biệt, Ống muống và Hậu cung của đền được tạo tác chủ yếu bằng đá xanh nguyên khối. Ống muống rộng khoảng 6,4 m, cao 5,53 m. Hệ thống cột, trụ, hoành phi, câu đối, cửa võng và nhiều cấu kiện kiến trúc đều được chế tác bằng đá. Những phiến đá lớn được chạm khắc hình rồng và các hoa văn trang trí tinh xảo, thể hiện trình độ kỹ thuật cao của các nghệ nhân xưa.

Hậu cung gồm 3 gian, có hai tầng mái. Phần cổ diêm bằng đá được chia thành nhiều ô, trang trí hình rồng, phượng, hoa sen và khắc ba chữ Hán “Thụy Ứng Quán”. Hệ thống cột đá, vì mái, cửa và các cấu kiện đều được chạm khắc công phu.

Gian giữa Hậu cung tạo thành một khám thờ, trên cửa chạm các hình tượng dơi ngậm tiền, hạc đứng trên lưng rùa, thể hiện những ước vọng về phúc, lộc, trường thọ. Các bộ vì nóc được tạo tác bằng đá xanh nguyên khối theo kiểu “vì cốn mê”. Những cột đá lớn đỡ mái có kích thước đáng kể, trên thân cột còn lưu giữ các câu đối chữ Hán ca ngợi Ngọc Hoàng Thượng Đế.

Ở trung tâm Hậu cung đặt một nhang án bằng đất nung có dạng hình hộp chữ nhật. Nhang án được ghép từ nhiều khối đất nung, cao khoảng 1,1 m, mặt bệ dài 2,78 m và rộng 0,82 m. Đây là một hiện vật có giá trị nghiên cứu về nghệ thuật và kỹ thuật tạo tác cổ.

Các công trình trong quần thể Đền An Xá

Bên cạnh đền chính, quần thể Đền An Xá còn có nhiều công trình gắn với hệ thống thần điện và lịch sử hình thành của di tích.

Đền Hạ nằm tiếp giáp hồi phải đền chính, thờ Đức ông Dương Huyền Lôi Công Đại vương, được xem là người anh cả trong Ngũ Lão Tiên Ông. Đền có bố cục hình chữ Đinh, gồm Tiền tế và Hậu cung, các cấu kiện kiến trúc chủ yếu bằng gỗ tứ thiết.

Đền Thiên Quan, còn gọi là Đền Công Đồng, nằm bên phải Tam quan theo hướng từ đền chính nhìn ra. Đây là nơi thờ các vị Thiên Quan. Trước cửa đền có một giếng nước được người dân sử dụng để ngâm gạo nếp làm xôi, đóng oản trong các dịp lễ, Tết và lễ hội. Công trình có bố cục hình chữ Đinh, gồm 3 gian Tiền tế và 1 gian Hậu cung.

Đền Mẫu nằm bên trái Tam quan, đối diện Đền Thiên Quan. Công trình thờ Thánh Mẫu và có bố cục hình chữ Đinh, gồm Tiền tế và Hậu cung. Không gian thờ tự thể hiện sự hiện diện của tín ngưỡng thờ Mẫu trong quần thể di tích bên cạnh yếu tố Đạo giáo.

Đền Quan Giám, còn gọi là Nhà Oản, thờ Quan Giám, vị thần được quan niệm là người trông coi công việc trong di tích và giám sát việc dâng lễ. Công trình có quy mô nhỏ, kiến trúc đơn giản với kết cấu gỗ và mái lợp ngói truyền thống.

Đền Kỷ niệm nằm tiếp giáp hồi trái đền chính, là nơi thờ những người có công hưng công xây dựng, trùng tu và tôn tạo di tích như cụ Thông Huân, Lê Đình Trân, Phạm Công Kim Bảng và những người khác. Công trình có bố cục hình chữ Đinh với 3 gian Tiền tế và 1 gian Hậu cung.

Miếu Cô là nơi thờ Tứ phủ Thánh Cô, Tứ phủ Thánh Cậu, có quy mô 3 gian và một hậu cung nhỏ. Cạnh Miếu Cô là nhà Vọng, cũng có kết cấu kiến trúc truyền thống.

Đình Vô nằm cách khu đền chính khoảng 200 m, thờ Đức ông Lỗ Quốc Chúa Võ Đại vương, một trong Ngũ Lão Tiên Ông, người được truyền thuyết ghi nhận có công diệt trừ hổ dữ và dựng Thụy Ứng Quán. Đình có bố cục hình chữ Đinh gồm 3 gian Tiền tế và 1 gian Hậu cung, mang đậm phong cách kiến trúc thời Nguyễn. Phía Đông đình còn có miếu thờ Tiên Bồng Đô Nguyên Súy.

Đình Căn cách đền chính khoảng 500 m, là nơi thờ Đức Ông Đại Phạm và Thiên Tiên. Đình có bố cục hình chữ Nhị gồm Tiền tế và Hậu cung, các cấu kiện kiến trúc mang phong cách mỹ thuật thời Nguyễn. Trong đình còn thờ một số vị thần được chuyển về từ các đình làng bị phá hủy trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Tháp Cửu trùng và các di vật quý

Một trong những hiện vật đặc biệt của Đền An Xá là tháp Cửu trùng bằng đất nung, được cho có niên đại từ thời Lý – Trần. Tháp gồm 9 tầng, thể hiện quan niệm về chín tầng trời trong tín ngưỡng Đạo giáo. Trên thân tháp có các họa tiết trang trí như hoa sen, chim thần Garuda và các hoa văn cách điệu. Đỉnh tháp có hình hồ lô, gắn với quan niệm về sự kết nối giữa trời và đất.

Bên cạnh tháp Cửu trùng còn có bệ thờ bằng đất nung hình hoa sen, được cho cùng niên đại với tháp. Di tích cũng lưu giữ khánh đá thời Hậu Lê, niên hiệu Vĩnh Trị năm 1676, chuông đồng niên hiệu Cảnh Hưng năm 1773 cùng nhiều bia đá và tượng thờ có giá trị.

Những hiện vật này không chỉ có giá trị nghệ thuật mà còn là nguồn tư liệu quan trọng giúp nghiên cứu lịch sử hình thành di tích, tín ngưỡng Đạo giáo và sự biến đổi của đời sống văn hóa tinh thần tại vùng đất Hưng Yên.

Giá trị lịch sử, văn hóa và kiến trúc nghệ thuật

Giá trị nổi bật của Đền An Xá nằm ở sự dung hội giữa Đạo giáo và tín ngưỡng dân gian bản địa. Trong hệ thống đền, quán cổ của người Việt, việc Ngọc Hoàng Thượng Đế được tôn làm thần chủ trong một không gian thờ tự có quy mô lớn như tại Đền An Xá là trường hợp đặc biệt.

Đền An Xá cũng là một trong số các di tích mang tên “Đậu” từng tồn tại trên địa bàn huyện Phù Tiên xưa, nay thuộc khu vực Tiên Lữ và Phù Cừ. Loại hình “Đậu” được xem là một dấu ấn riêng trong đời sống tín ngưỡng Đạo giáo tại Hưng Yên, phản ánh quá trình Đạo giáo hòa nhập với tín ngưỡng bản địa của cư dân vùng đồng bằng Bắc Bộ.

Về kiến trúc nghệ thuật, điểm đặc biệt của di tích là hai tòa Ống muống và Hậu cung được tạo tác bằng đá xanh nguyên khối. Từ hệ thống cột, vì, kèo, cửa võng, ngưỡng cửa đến nhiều chi tiết trang trí đều được các nghệ nhân xưa chạm khắc trực tiếp trên đá. Các họa tiết rồng, phượng, hoa sen, linh vật và hoa văn truyền thống được thể hiện với đường nét sâu, nổi và mềm mại.

Trong số các công trình tín ngưỡng cổ ở miền Bắc, số lượng di tích còn bảo tồn được hệ thống kiến trúc đá quy mô lớn như Đền An Xá không nhiều. Đây là một trong những yếu tố tạo nên giá trị đặc biệt về nghệ thuật và kỹ thuật xây dựng của di tích.

Đền An Xá còn lưu giữ hệ thống di vật phong phú như tháp đất nung, nhang án đất nung, khánh đá, chuông đồng, bia đá và tượng thờ. Những hiện vật này góp phần làm rõ lịch sử tồn tại lâu dài của di tích cũng như sự tiếp biến của các lớp tín ngưỡng qua nhiều thời kỳ.

Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, khu vực đền và các di tích trong làng còn gắn với nhiều hoạt động cách mạng của địa phương. Di tích từng là nơi che chở, nuôi giấu cán bộ cách mạng, có thời gian được sử dụng làm kho quân giới của Vệ Quốc đoàn, nơi tổ chức mít tinh và từng là trụ sở làm việc của chính quyền địa phương, trường học cho con em trong làng.

Lễ hội Đền An Xá

Lễ hội Đền An Xá được tổ chức hằng năm từ ngày mồng 1 đến ngày 12 tháng 4 âm lịch, trong đó chính hội diễn ra từ ngày mồng 6 đến ngày mồng 8.

Lễ hội mang đậm sắc thái văn hóa dân gian vùng đồng bằng Bắc Bộ và gắn với tín ngưỡng Đạo giáo tại địa phương. Một trong những nghi lễ nổi bật là rước Ngọc Hoàng Thượng Đế cùng các vị Thiên Tiên, Địa Tiên và Ngũ Lão Tiên Ông. Các nghi thức tế lễ, rước kiệu và hoạt động hội tạo nên không gian sinh hoạt văn hóa cộng đồng đặc sắc.

Trong phần hội còn có diễn tích “Mẹ con nhà Khó đánh hổ”, thể hiện tinh thần thượng võ và sức mạnh cộng đồng, đồng thời phản ánh lớp tín ngưỡng thờ Mẫu, thờ Mẹ trong đời sống văn hóa dân gian.

Theo tư liệu về lễ hội xưa, Đền Đậu An còn có tục rước ông Đùng, bà Đà. Đây là một lớp tín ngưỡng bản địa gắn với quan niệm phồn thực và sự hòa hợp âm dương, thể hiện ước vọng mùa màng sinh sôi, cuộc sống no đủ. Về sau, những hình tượng này được diễn giải và tiếp biến theo hệ thống tín ngưỡng Đạo giáo, gắn với Thiên Tiên và Địa Tiên.

Những lớp văn hóa đan xen trong lễ hội cho thấy quá trình giao thoa lâu dài giữa tín ngưỡng bản địa với Đạo giáo, tạo nên bản sắc riêng của Đền An Xá.

Với hệ thống kiến trúc độc đáo, cảnh quan, di vật phong phú và những giá trị văn hóa tín ngưỡng đặc biệt, Đền An Xá là một di tích có vị trí quan trọng trong hệ thống di sản văn hóa của Hưng Yên. Di tích không chỉ là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của cộng đồng mà còn là nguồn tư liệu có giá trị nghiên cứu về lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật và quá trình giao thoa văn hóa tại vùng đồng bằng Bắc Bộ.

Với những giá trị nổi bật về lịch sử, văn hóa, kiến trúc và nghệ thuật, Đền An Xá đã được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 2280/QĐ-TTg ngày 31/12/2020.

5/5 - (1 bình chọn)

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Fill out this field
Fill out this field
Vui lòng nhập địa chỉ email hợp lệ.
You need to agree with the terms to proceed

Liên hệ truyền thông 0938948549

1 result
Bạn sẽ quan tâm?:
Có thể bạn cũng quan tâm: