Đền Hai Bà Trưng, còn gọi là đền Hạ Lôi, tọa lạc tại số 12 Đồng Nhân, phường Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. Đây là di tích gắn với cuộc đời và sự nghiệp của hai nữ anh hùng dân tộc Trưng Trắc và Trưng Nhị, những người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa năm 40 sau Công nguyên, giành lại quyền tự chủ cho đất nước sau thời gian dài chịu ách thống trị của nhà Đông Hán.
Quần thể di tích được xây dựng trên khu đất cao, rộng, hướng về khu vực đê sông Hồng, với diện tích khoảng 129.824 m². Trong khuôn viên có nhiều công trình kiến trúc và cảnh quan gắn với Hai Bà Trưng cùng các tướng lĩnh, thân nhân và những nhân vật liên quan đến cuộc khởi nghĩa. Các hạng mục tiêu biểu gồm cổng đền, nhà khách, nghi môn ngoại, nghi môn nội, gác trống, gác chuông, nhà tả và hữu mạc, đền thờ Hai Bà Trưng, đền thờ thân phụ và thân mẫu Hai Bà, đền thờ thân phụ và thân mẫu ông Thi Sách, đền thờ các nữ tướng, đền thờ các nam tướng thời Hai Bà Trưng, nhà bia lưu niệm Hộp thư bí mật của đồng chí Trường Chinh cùng hệ thống hồ, ao và dấu tích thành cổ Mê Linh.
Kiến trúc và các công trình trong di tích
Từ bên ngoài, cổng đền được xây dựng theo kiểu hai tầng. Tầng dưới có ba cửa vòm cuốn, tầng trên theo kiểu chồng diêm với hai tầng tám mái. Bờ nóc trang trí hình lưỡng long chầu nhật, cổ diêm có hoa bốn cánh, các góc đao tạo hình lá hỏa, trong khi cột được trang trí bằng các mô típ hoa cúc và hoa lá. Nhà khách gồm bảy gian, xây theo kiểu tường hồi bít đốc, tạo không gian đón tiếp và phục vụ các hoạt động của di tích.
Nghi môn ngoại được xây theo kiểu cột đồng trụ, hay còn gọi là tứ trụ. Đỉnh các trụ trang trí hình tứ phượng theo lối lá lật, các ô lồng đèn thể hiện các mô típ tứ linh. Hệ thống trụ tạo thành một cổng chính ở giữa và hai cổng phụ ở hai bên. Qua nghi môn ngoại là nghi môn nội, gồm một gian và hai dĩ. Công trình có bờ nóc, bờ dải trang trí hoa chanh, hai đầu hồi đắp hình đầu rồng, các góc đao uốn cong. Phần khúc nguỷnh đặt tượng nghê gắn sứ trong tư thế chầu vào nhau, trong khi hệ vì đỡ mái được kết cấu theo kiểu thượng chồng rường, hạ kẻ chuyền.
Gác chuông và gác trống đều được tạo dựng theo kiểu bốn mái uốn cong, bờ dải trang trí hoa chanh và hai đầu hồi đắp hình hổ phù. Tầng trên mở bốn cánh cửa theo bốn hướng. Hai công trình góp phần tạo nên sự cân đối trong tổng thể kiến trúc của khu đền, đồng thời phục vụ các nghi lễ truyền thống.
Công trình trung tâm của quần thể là đền thờ Hai Bà Trưng. Tòa tiền tế gồm bảy gian, hai dĩ, xây theo kiểu tường hồi bít đốc. Bờ nóc tạo hình bờ đinh, hai đầu trang trí con đấu, hai bờ dải đắp hình phượng vũ. Phía trước tiền tế đặt đôi voi đá trong tư thế quỳ chầu vào nhau. Hai bên là các cổng nhỏ có mái chồng diêm, nối với nhau bằng hai bức cánh phong. Phía trước cánh phong có các trụ biểu, đỉnh trụ tạo hình trái giành và các ô lồng đèn trang trí tứ linh.
Tòa trung tế gồm năm gian, hai dĩ, cũng được xây theo kiểu tường hồi bít đốc. Bờ nóc trang trí hoa chanh, chính giữa có hình hổ phù, mái được xử lý theo kiểu chồng diêm. Phía trước trung tế đặt lư hương đá. Nối với gian giữa của trung tế là hậu cung, gồm ba gian, một dĩ, được bố trí theo chiều dọc, tạo thành tổng thể kiến trúc hình chữ Đinh. Hệ khung đỡ mái hậu cung gồm các bộ vì có kết cấu thượng giá chiêng hạ chồng rường và thượng giá chiêng hạ cốn. Các hàng cột có đường kính khoảng 35 cm, phần cốn nách được chạm khắc các mô típ chữ Thọ, hoa lá.
Ngoài khu vực thờ Hai Bà Trưng, quần thể còn có các công trình dành để tưởng niệm thân nhân và tướng lĩnh của Hai Bà. Đền thờ thân phụ và thân mẫu Hai Bà có mặt bằng hình chữ Đinh, gồm tiền tế và hậu cung. Tiền tế năm gian, tường hồi bít đốc, bờ nóc trang trí lưỡng long chầu nguyệt, trong khi hậu cung gồm một gian và hai dĩ. Đền thờ thân phụ, thân mẫu ông Thi Sách nằm về phía bên trái đền Hai Bà Trưng, quay hướng Tây Nam, cũng có bố cục hình chữ Đinh với tiền tế và hậu cung.
Đền thờ các nữ tướng thời Hai Bà Trưng có mặt bằng hình chữ Nhất, gồm năm gian, xây theo kiểu tường hồi bít đốc. Hai gian bên có cửa hình chữ Thọ để lấy ánh sáng. Hệ khung mái gồm sáu bộ vì, kết cấu theo kiểu thượng giá chiêng, trung kẻ truyền, hạ bẩy hiên, hậu gối tường. Gian giữa đặt bệ thờ cao, trên có ngai và bài vị, phía trước là hương án.
Đền thờ các nam tướng thời Hai Bà Trưng quay hướng Đông Bắc, có mặt bằng hình chữ Nhất, gồm năm gian và tường hồi bít đốc. Hệ vì đỡ mái được kết cấu tương tự đền thờ các nữ tướng. Gian giữa đặt bệ thờ cao, bài trí khám thờ và bài vị.
Hai dãy nhà tả mạc và hữu mạc đều gồm bảy gian, xây theo kiểu tường hồi bít đốc. Bờ nóc và bờ dải trang trí hoa chanh, hệ vì đỡ mái có kết cấu thượng giá chiêng chồng rường, trung kẻ, hạ bẩy. Phía trước dãy nhà bên phải đặt các tượng voi, ngựa, sư tử; bên trong lưu giữ và trưng bày một số hiện vật khảo cổ được phát hiện tại khu vực thành cổ Mê Linh.
Thành cổ Mê Linh và giá trị lịch sử, văn hóa
Một bộ phận quan trọng trong không gian di tích là dấu tích thành cổ Mê Linh. Hiện còn dấu vết thành đất có hình dáng uốn lượn như con rắn, với chiều dài khoảng 1.750 m, nơi rộng nhất khoảng 500 m và nơi hẹp nhất khoảng 200 m. Thành được đắp bằng đất luyện, thân thành dày khoảng 2 m và cao khoảng 4 m. Phía ngoài thành có quách, bên ngoài nữa là hào phòng thủ. Giữa thành và quách có đường “thông cù”, từ đó hình thành cách gọi “thành Ống”.
Theo truyền thuyết, trong thành từng có cung điện của Trưng Vương, bên ngoài là nơi bố trí các trại quân bộ và quân thủy. Khu vực phía trước đền Hạ Lôi còn ghi nhận dấu tích các đồn quân được cho là liên quan đến nữ tướng Lự Nương và nam tướng Bạch Trạch. Các cuộc khai quật khảo cổ tại thành cổ Mê Linh đã phát hiện nhiều hiện vật, cung cấp thêm tư liệu về lịch sử cư trú và hoạt động của con người tại khu vực.
Trong khuôn viên di tích còn có nhà bia lưu niệm Hộp thư bí mật của đồng chí Trường Chinh. Công trình được xây theo kiểu bốn mái, các góc mái uốn cong. Tấm bia tại đây ghi lại thông tin về một cây lụa già có thân rỗng từng được sử dụng làm hộp thư bí mật của đồng chí Trường Chinh trong những năm 1943 – 1945. Đền Hai Bà Trưng cũng từng là một trong những địa điểm được sử dụng cho các cuộc gặp gỡ bí mật, phục vụ công tác chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa giành chính quyền tại Hà Nội tháng 8/1945.
Không gian cảnh quan của di tích còn gắn với các địa danh như Mắt Voi, Vòi Voi, hồ Tắm Voi và hồ Bán Nguyệt. Theo truyền thuyết dân gian, khu vực đền được xây dựng trên vùng đất có thế hình đầu voi, vì vậy các địa danh này được hình thành trong đời sống văn hóa của cộng đồng địa phương. Hiện nay, khu vực được kè đá, gạch và trang trí bằng các họa tiết hoa sen bằng đá xanh, tạo thành cảnh quan hài hòa với tổng thể di tích.
Đền Hai Bà Trưng hiện còn lưu giữ hệ thống di vật phong phú với nhiều chất liệu như gỗ, đá, đồng, sứ và giấy, trong đó nhóm di vật bằng gỗ chiếm số lượng đáng kể. Nhiều hiện vật có niên đại thời Nguyễn như hoành phi, hương án, đại tự, câu đối, khám thờ, kiệu và tượng thờ được chạm khắc công phu với các đề tài rồng mây, hoa lá, văn triện, hổ phù. Những hiện vật này vừa có giá trị lịch sử, vừa phản ánh trình độ nghệ thuật tạo tác và đời sống tín ngưỡng của cộng đồng qua các thời kỳ.
Đền Hai Bà Trưng đồng thời là không gian sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng quan trọng của người dân địa phương. Lễ hội đền được tổ chức hằng năm từ ngày mùng 4 đến mùng 10 tháng Giêng âm lịch, trong đó ngày mùng 6 là chính hội. Theo truyền thống, đây được xem là ngày Hai Bà Trưng mở tiệc khao quân, vì vậy lễ hội được tổ chức để tưởng nhớ sự kiện và giáo dục truyền thống lịch sử cho các thế hệ. Cứ năm năm một lần, người dân địa phương tổ chức rước kiệu Hai Bà Trưng và kiệu Thành hoàng làng Hạ Lôi, tạo nên một nghi lễ cộng đồng có quy mô lớn.
Với hệ thống kiến trúc cổ, dấu tích thành cổ Mê Linh, các hiện vật khảo cổ, di vật nghệ thuật cùng những giá trị lịch sử và văn hóa gắn với Hai Bà Trưng, quần thể di tích là một địa chỉ quan trọng trong việc bảo tồn ký ức về cuộc khởi nghĩa đầu Công nguyên và truyền thống đấu tranh giành độc lập của dân tộc. Di tích đồng thời phản ánh đời sống tín ngưỡng, nghệ thuật kiến trúc và sự gắn kết cộng đồng của cư dân Hạ Lôi qua nhiều thế hệ.
Ngày 9/12/2013, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2383/QĐ-TTg, xếp hạng Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật Đền Hai Bà Trưng là Di tích quốc gia đặc biệt.










