Đền thờ Tây Sơn Tam Kiệt

Di tích Đền thờ Tây Sơn Tam Kiệt nằm trong quần thể Bảo tàng Quang Trung, tại Khối 1A (làng Kiên Mỹ), xã Tây Sơn, tỉnh Gia Lai, là một trong những địa điểm quan trọng gắn với phong trào khởi nghĩa Tây Sơn và triều đại Tây Sơn cuối thế kỷ XVIII. Di tích gắn liền với cuộc đời, sự nghiệp của ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ, đặc biệt là Hoàng đế Quang Trung – Nguyễn Huệ, người anh hùng dân tộc có vai trò nổi bật trong lịch sử Việt Nam.

Quần thể di tích có giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hóa và khoa học, gồm Điện thờ Tây Sơn Tam Kiệt, Bến Trường Trầu, Bảo tàng Quang Trung cùng nhiều công trình tưởng niệm, nghiên cứu và sinh hoạt văn hóa. Đây không chỉ là nơi tưởng nhớ những người lãnh đạo phong trào Tây Sơn mà còn là không gian lưu giữ ký ức về vùng đất Tây Sơn, nơi khởi nguồn của một phong trào nông dân có quy mô lớn và ảnh hưởng sâu rộng đến tiến trình lịch sử dân tộc.

Sau khi triều Tây Sơn sụp đổ, quê hương Kiên Mỹ của ba anh em Tây Sơn từng bị tàn phá, nhiều dấu tích bị hủy hoại và nhân dân phải ly tán. Tuy nhiên, với lòng tri ân đối với những người anh hùng của quê hương, nhân dân địa phương đã bí mật lập nơi thờ tự trên nền nhà cũ của ông bà Hồ Phi Phúc, thân sinh của ba anh em Tây Sơn. Công trình ban đầu được dựng như một ngôi đình lớn, gọi là đình Kiên Mỹ, để thờ “Ba ngài Tây Sơn”. Về sau, Điện Tây Sơn được xây dựng lại trên nền ngôi đình này.

Điện thờ Tây Sơn Tam Kiệt

Phía trước Điện Tây Sơn là cổng lớn xây bằng gạch, trên hai trụ cổng chính có câu đối chữ Hán, phía trên đặt biển đúc nổi ba chữ “Tây Sơn Điện”. Qua cổng là nhà bia ghi công trạng của Hoàng đế Quang Trung – Nguyễn Huệ bằng chữ quốc ngữ. Phía sau nhà bia là tiền sảnh nối với khu điện chính.

Nội thất Điện Tây Sơn hiện có mười án thờ bằng gỗ, được chạm khắc công phu với các đề tài như lưỡng long chầu nguyệt, dây leo, chùm nho và nhiều họa tiết mang phong cách nghệ thuật truyền thống miền Trung. Án ở tiền điện là án Công đồng, thờ chung các nhân vật có liên quan đến nhà Tây Sơn.

Hậu điện có ba án thờ được bố trí theo thứ tự: chính giữa là án thờ Hoàng đế Quang Trung – Nguyễn Huệ; bên phải là án thờ Hoàng đế Thái Đức – Nguyễn Nhạc; bên trái là án thờ Đông Định Vương – Nguyễn Lữ. Phía sau các án thờ là bức hoành lớn bằng gỗ, chạm rồng và hoa văn, được sơn son thếp vàng.

Hai bên phía trước ba án thờ đặt các giá gỗ để tám loại binh khí tượng trưng cho võ nghiệp Tây Sơn, gồm trường đao, xà mâu, vòng âm dương, trường chùy, trường thương, trường kích, trường phủ và ba chĩa. Hai dãy phía Đông và phía Tây trong nội điện thờ các văn thần, võ tướng tiêu biểu của phong trào Tây Sơn. Dãy phía Đông gồm án thờ Ngô Thì Nhậm, Trần Văn Kỷ và Ngô Văn Sở. Dãy phía Tây gồm án thờ Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân và Võ Văn Dũng.

Các án thờ đều có kích thước tương đối đồng đều, được chạm khắc hoa văn dây lá. Trên vách phía Đông và phía Tây đặt những bức hoành gỗ sơn son thếp vàng, trang trí hình bút lồng trong cuốn thư, biểu tượng cho quan văn, và mặt hổ phù, biểu tượng cho quan võ. Hai phòng đầu hồi được sử dụng để đặt giá chiêng và giá trống, phục vụ các nghi lễ tại Điện.

Trong khuôn viên di tích còn có giếng nước cổ được ghép bằng đá ong, đường kính khoảng 0,9 m, thành giếng cao khoảng 0,8 m. Năm 1998, giếng được xây dựng nhà mái che kiểu cổ lầu hình lục giác, mỗi cạnh dài khoảng 3,45 m, mái bê tông dán ngói vảy. Thành giếng được bảo vệ bằng khung gỗ hình lục giác cách điệu, tạo hình như những mắt trúc.

Một dấu tích đặc biệt quan trọng trong khuôn viên Điện Tây Sơn là cây me cổ thụ có tuổi đời khoảng 300 năm. Cây có gốc chu vi khoảng 3,9 m, tán rộng đến 30 m, cành lá sum suê, tạo bóng mát cho cả một góc vườn. Ngoài giá trị cảnh quan và tuổi đời lâu năm, cây me còn được xem là biểu tượng của sức sống bền bỉ, sự trường tồn của phong trào Tây Sơn trong tâm thức cộng đồng. Hình ảnh “cây me cũ” cùng những địa danh gắn với quê hương Tây Sơn đã trở thành một phần ký ức lịch sử đặc biệt của vùng đất này.

Năm 2007, tỉnh Bình Định quyết định mở rộng khu di tích Điện Tây Sơn về phía Nam, đến sát bờ Bắc sông Côn, bao gồm cả khu vực Bến Trường Trầu, với diện tích gần 6 ha thuộc khu C và khu D. Đường đi trong khu vực được lát đá chẻ, bờ sông Côn được kè đá nhằm hạn chế sạt lở. Hiện nay, khu vực này còn được sử dụng làm không gian sinh hoạt cộng đồng, vui chơi, tổ chức lễ hội và các hoạt động tôn vinh giá trị lịch sử của di tích.

Bến Trường Trầu và dấu tích phong trào Tây Sơn

Bến Trường Trầu từng là một bến buôn bán trầu lớn bên bờ sông Côn, thuộc xóm Trầu, thôn Kiên Mỹ, cách Điện thờ Tây Sơn Tam Kiệt khoảng 200 m. Trong lịch sử, đây là địa điểm giao thương quan trọng giữa vùng Tây Sơn thượng đạo và Tây Sơn hạ đạo.

Trầu cau là sản vật nổi tiếng của cả miền núi và đồng bằng Tây Sơn, đặc biệt là trầu nguồn do đồng bào các dân tộc ở khu vực Tây Nguyên trồng và đưa xuống trao đổi. Bến Trường Trầu trở thành nơi trung chuyển hàng hóa, kết nối hoạt động buôn bán giữa miền ngược và miền xuôi. Ngoài trầu cau, tại đây còn diễn ra hoạt động trao đổi nhiều mặt hàng thiết yếu phục vụ đời sống.

Gia đình ông Hồ Phi Phúc, khi còn sinh sống ở quê vợ tại làng Phú Lạc, ngoài nghề nông còn tham gia buôn bán với miền xuôi và miền ngược. Nhờ hoạt động giao thương, gia đình trở nên khá giả. Các con ông, trong đó có Nguyễn Nhạc, tiếp tục duy trì và mở rộng công việc buôn bán, nhờ đó có điều kiện đi lại, tiếp xúc với nhiều vùng đất, nhiều tầng lớp nhân dân và các cộng đồng dân tộc khác nhau.

Bến Trường Trầu vì thế có vai trò đáng kể đối với quá trình chuẩn bị và phát triển phong trào khởi nghĩa Tây Sơn. Nguyễn Nhạc thường xuyên qua lại Tây Sơn thượng đạo, có quan hệ với các dân tộc ít người ở Tây Nguyên, đồng thời giao lưu với các chợ, bến và thị tứ ở vùng đồng bằng. Những hoạt động này giúp ông mở rộng hiểu biết, nắm bắt tình hình xã hội, nhận thấy đời sống khổ cực của nhân dân và từng bước xây dựng mạng lưới liên kết lực lượng.

Sau thời gian chuẩn bị tại Tây Sơn thượng đạo, nghĩa quân Tây Sơn dưới sự chỉ huy của Nguyễn Nhạc tiến xuống Tây Sơn hạ đạo, giải phóng phủ Quy Nhơn, mở đầu cho những thắng lợi quan trọng tiếp theo. Trong quá trình đó, Bến Trường Trầu được xem là một đầu mối giao thương, liên lạc và trao đổi thông tin quan trọng, góp phần hỗ trợ quá trình chuẩn bị lực lượng, kết nối miền núi với đồng bằng.

Theo truyền thuyết địa phương, Nguyễn Nhạc từng dựng một ngôi nhà cạnh bến để chứa trầu và làm quán trọ cho khách buôn. Vì thường xuyên xuất hiện tại đây, ông được người dân gọi bằng tên thân mật “anh Hai Trầu”. Sau khi triều Tây Sơn chấm dứt, nhân dân Kiên Mỹ dựng trên nền nhà cũ một ngôi miếu thờ ba anh em Tây Sơn, gọi là miếu Vĩnh Thọ, còn được gọi là miếu Cây Gòn do nơi đây từng có cây gòn lớn.

Về sau, thực dân Pháp sử dụng khu vực miếu làm kho chứa lương thực rồi phá hủy công trình. Năm 1963, ba vị khất sĩ người Nam Bộ cùng nhân dân địa phương dựng một ngôi chùa nhỏ lợp tranh trên nền miếu cũ. Đến năm 1967, công trình được xây dựng bằng gạch và mang tên Tịnh xá Ngọc Bình.

Ngày nay, Bến Trường Trầu đã bị bồi lấp, không còn cảnh thuyền ghe tấp nập như xưa, chỉ còn dấu tích là một bãi cát ven sông Côn. Tuy nhiên, địa danh này vẫn giữ vị trí quan trọng trong hệ thống di tích gắn với buổi đầu hình thành phong trào Tây Sơn. Cùng với cây me cổ thụ, Bến Trường Trầu nhắc nhớ về một thời kỳ lịch sử sôi động, khi hoạt động giao thương dân gian đã góp phần tạo nên điều kiện xã hội, kinh tế và liên kết cộng đồng cho một cuộc khởi nghĩa lớn.

Bảo tàng Quang Trung và các công trình văn hóa

Bảo tàng Quang Trung được xây dựng năm 1977, khánh thành năm 1979, là nơi lưu giữ, trưng bày các tài liệu, hiện vật liên quan đến phong trào Tây Sơn và triều đại Tây Sơn. Bảo tàng hiện trưng bày khoảng 11.605 tư liệu, hiện vật có giá trị lịch sử, văn hóa và khoa học. Phía trước bảo tàng là tượng đài Hoàng đế Quang Trung bằng đồng, thể hiện hình ảnh vị hoàng đế trong tư thế uy nghiêm, tượng trưng cho khí thế quật khởi của phong trào Tây Sơn.

Trong quần thể còn có Nhà biểu diễn nhạc – võ Tây Sơn, diện tích khoảng 268 m². Đây là nơi đội nhạc võ biểu diễn trống trận Tây Sơn, võ cổ truyền Tây Sơn và một số loại hình nghệ thuật dân gian Tây Nguyên của các dân tộc từng tham gia, ủng hộ phong trào Tây Sơn trong giai đoạn đầu.

Nhà rông văn hóa Tây Nguyên có diện tích khoảng 118 m², được xây dựng nhằm giới thiệu, trưng bày tư liệu và hiện vật về văn hóa các dân tộc Tây Nguyên, trong đó có những cộng đồng từng có quan hệ giao lưu, liên kết và tham gia phong trào Tây Sơn trong thời kỳ tụ nghĩa ở vùng thượng đạo.

Hằng năm, tại di tích diễn ra nhiều nghi lễ tưởng niệm và hoạt động tri ân ba anh em Tây Sơn cùng các tướng lĩnh, nghĩa sĩ đã đóng góp cho sự nghiệp dựng nước và bảo vệ đất nước. Tiêu biểu có ngày Hiệp kỵ Tây Sơn Tam Kiệt vào ngày 15 tháng 11 âm lịch, lễ giỗ trận Đống Đa vào mùng 5 tháng Giêng và ngày giỗ Hoàng đế Quang Trung vào ngày 29 tháng 7 âm lịch.

Trong các dịp lễ lớn, Bảo tàng Quang Trung cùng Ban Nghi lễ Điện tổ chức lễ cúng kỵ theo nghi thức truyền thống, thu hút đông đảo nhân dân, hậu duệ các dòng họ, du khách và những người quan tâm đến lịch sử về dâng hương, tưởng niệm. Các hoạt động này góp phần duy trì ký ức cộng đồng, giáo dục truyền thống yêu nước, khơi dậy niềm tự hào dân tộc và phát huy giá trị của di tích trong đời sống văn hóa đương đại.

Với những giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hóa, khoa học và nghệ thuật, Khu đền thờ Tây Sơn Tam Kiệt tại huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định đã được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 2408/QĐ-TTg ngày 31/12/2014. Đây là di tích tiêu biểu gắn với phong trào Tây Sơn, với quê hương của ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ và với sự nghiệp của Hoàng đế Quang Trung, một trong những nhân vật kiệt xuất của lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XVIII.

Rate this post

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Fill out this field
Fill out this field
Vui lòng nhập địa chỉ email hợp lệ.
You need to agree with the terms to proceed

Liên hệ truyền thông 0938948549

1 result
Bạn sẽ quan tâm?:
Có thể bạn cũng quan tâm: