Di tích lịch sử Đền Hùng

Đền Hùng nằm trên núi Nghĩa Lĩnh, thuộc vùng đất Phong Châu, nơi được xem là đất đế đô của Nhà nước Văn Lang xưa. Trong tâm thức của người Việt, đây là đất Tổ, nơi gắn với thời đại các Vua Hùng và truyền thuyết dựng nước, đồng thời là một trong những không gian văn hóa tâm linh quan trọng nhất của dân tộc.

Khu di tích Đền Hùng được xây dựng hài hòa với cảnh quan núi rừng, gồm hệ thống đền, chùa, lăng và nhiều công trình phụ trợ. Các công trình chính hiện nay gồm Đền Hạ, Chùa Thiên Quang, Đền Trung, Đền Thượng, Lăng Hùng Vương, Đền Giếng, Đền Tổ mẫu Âu Cơ và Đền thờ Lạc Long Quân, cùng Cổng đền, nhà bia, quảng trường, đường bậc đá và các hạng mục cảnh quan.

Đây không chỉ là một quần thể kiến trúc tín ngưỡng mà còn là nơi thực hành Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, thể hiện truyền thống hướng về nguồn cội và sự gắn kết cộng đồng của người Việt qua nhiều thế hệ.

Quần thể kiến trúc trên núi Nghĩa Lĩnh

Cổng đền và Đền Hạ

Cổng đền được xây dựng trên núi Nghĩa Lĩnh vào năm 1917, dưới triều vua Khải Định, theo kiểu vòm cuốn với chiều cao khoảng 8,5 m, gồm hai tầng và tám mái. Tầng dưới có cửa vòm lớn, tầng trên có cửa nhỏ hơn. Bốn góc mái trang trí hình rồng, trên cổng đắp nổi hai con nghê.

Mặt trước cổng có phù điêu hai võ sĩ mặc áo giáp, một người cầm giáo, một người cầm rìu chiến, phần ngực trang trí hình hổ phù. Những chi tiết này tạo nên vẻ uy nghiêm cho lối vào khu đền.

Đền Hạ được xây dựng lại trên nền kiến trúc cũ vào khoảng thế kỷ XVII – XVIII, theo kiểu chữ “Nhị”, gồm tiền bái và hậu cung, mỗi tòa ba gian. Công trình có kiến trúc tương đối đơn giản, mái lợp ngói mũi, thường được gọi theo cách dân gian là ngói mũi lợn. Hai bên phần đốc có phù điêu voi và ngựa.

Ngay dưới chân Đền Hạ là nhà bia được xây dựng năm 1917 theo hình lục giác, gồm sáu mái và sáu cột gạch xây tròn. Trong nhà bia đặt bia đá ghi lời căn dặn nổi tiếng của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người về thăm Đền Hùng ngày 19/9/1954:

“Các Vua Hùng đã có công dựng nước,
Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

Lời dặn này đã trở thành một câu nói được nhắc đến rộng rãi khi nói về truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.

Chùa Thiên Quang và Đền Trung

Chùa Thiên Quang nằm trong quần thể Đền Hùng, được xây dựng theo kiểu nội công ngoại quốc, gồm tiền đường, thiêu hương, tam bảo, hành lang và nhà Tổ. Các công trình sử dụng kết cấu truyền thống với hệ thống cột, quá giang, kèo và mái lợp ngói mũi. Bờ nóc tiền đường trang trí hình lưỡng long chầu nguyệt.

Chùa thờ Phật theo hệ phái Đại thừa. Trước sân có hai tháp sư hình trụ, bốn tầng, trên đỉnh trang trí hình hoa sen. Bên trong các tháp có bia đá ghi tên những vị hòa thượng từng tu hành và viên tịch tại chùa.

Chùa còn có gác chuông được xây dựng từ thế kỷ XVII, gồm ba gian, hai tầng mái, kết cấu vì kèo chồng rường kết hợp bẩy kẻ. Quả chuông treo tại đây không ghi niên đại đúc nhưng có dòng chữ xác định địa danh xưa của khu vực.

Đền Trung, còn gọi là Hùng Vương Tổ miếu, nằm trên núi Nghĩa Lĩnh, có kiến trúc hình chữ “Nhất”, gồm ba gian, quay về hướng Nam. Công trình dài khoảng 7,2 m, rộng 3,7 m, mái hiên cao khoảng 1,8 m. Đây là nơi gắn với không gian thờ tự và truyền thống tưởng niệm các Vua Hùng trong quần thể Đền Hùng.

Ngay trước chùa Thiên Quang là cây vạn tuế được các nhà khoa học ước tính đã 800 tuổi. Đây là một trong những cây có tuổi đời cao nhất ở đền Hùng. Cây cao hơn 5 m, đường kính gốc khoảng 35 cm, thân nghiêng khoảng 30 độ. Để bảo đảm an toàn cho cây, khu di tích đã làm cột chống. Cây có ba nhánh tỏa ra các hướng, tượng trưng cho ba miền Bắc - Trung- Nam chung một cội nguồn.
Ngay trước chùa Thiên Quang là cây vạn tuế được các nhà khoa học ước tính đã 800 tuổi. Đây là một trong những cây có tuổi đời cao nhất ở đền Hùng. Cây cao hơn 5 m, đường kính gốc khoảng 35 cm, thân nghiêng khoảng 30 độ. Để bảo đảm an toàn cho cây, khu di tích đã làm cột chống. Cây có ba nhánh tỏa ra các hướng, tượng trưng cho ba miền Bắc – Trung- Nam chung một cội nguồn.
Từ đền Hạ bước hơn 150 bậc đá, du khách lên tới đền Trung còn có tên gọi là Hùng Vương tổ miếu. Ở sân đền có một bộ bàn đá 8 chỗ ngồi. Những viên đá dẹt mộc mạc, ngả màu theo thời gian. Tương truyền đây là nơi các vua Hùng cùng với các lạc hầu, lạc tướng bàn việc nước.
Từ đền Hạ bước hơn 150 bậc đá, du khách lên tới đền Trung còn có tên gọi là Hùng Vương tổ miếu. Ở sân đền có một bộ bàn đá 8 chỗ ngồi. Những viên đá dẹt mộc mạc, ngả màu theo thời gian. Tương truyền đây là nơi các vua Hùng cùng với các lạc hầu, lạc tướng bàn việc nước.

Đền Thượng và Lăng Hùng Vương

Đền Thượng nằm ở vị trí cao trên núi Nghĩa Lĩnh. Quần thể công trình được bố trí theo nhiều cấp, gồm nghi môn, nhà chuông trống, tiền tế, đại bái và hậu cung. Bên trái đền có một cột đá thề hình vuông, cao khoảng 1,3 m, rộng 0,3 m. Cột đá được tôn tạo, làm bệ vào năm 1968.

Đền Thượng là nơi gắn với nhiều truyền thuyết về thời đại Hùng Vương và cũng là một trong những điểm quan trọng nhất của hành trình hành hương về đất Tổ.

Phía Đông Đền Thượng là Lăng Hùng Vương, theo truyền thuyết được xem là nơi an nghỉ của Vua Hùng thứ sáu. Lăng có vị trí được mô tả theo thế “đầu đội sơn, chân đạp thủy”, mặt quay về hướng Đông Nam.

Công trình có hình vuông, hai tầng mái, các góc mái trang trí rồng. Đỉnh lăng tạo hình “quả ngọc” theo tích “cửu long tranh châu”, mái mô phỏng ngói ống cổ. Ba mặt lăng có cửa vòm, xung quanh là tường đá. Bên trong lăng có mộ được xây hình hộp chữ nhật và bia ghi “Biểu chính”, trong khi các mặt lăng có đề “Hùng Vương lăng”.

Từ đền Trung đi tiếp hơn 100 bậc đá sẽ đến đền Thượng - nơi các vua Hùng làm lễ tế Trời đất, thần Núi và thần Lúa. Đền có tên chữ là Kính thiên lĩnh điện, nghĩa là điện thờ trời. Đây cũng là địa điểm chính diễn ra các nghi thức quan trọng nhất trong ngày giỗ Tổ.
Từ đền Trung đi tiếp hơn 100 bậc đá sẽ đến đền Thượng – nơi các vua Hùng làm lễ tế Trời đất, thần Núi và thần Lúa. Đền có tên chữ là Kính thiên lĩnh điện, nghĩa là điện thờ trời. Đây cũng là địa điểm chính diễn ra các nghi thức quan trọng nhất trong ngày giỗ Tổ.

Đền Giếng

Đền Giếng, tên chữ là Ngọc Tỉnh, nằm trên núi Nghĩa Lĩnh và được xây dựng vào khoảng thế kỷ XVIII. Đền quay về hướng Đông Nam, có kiến trúc chữ “Công”, gồm tiền bái, hậu cung, chuôi vồ, hai nhà oản và phương đình nối tiền bái với hậu cung.

Theo truyền thuyết, đây là nơi các công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa, con gái Vua Hùng thứ 18, thường soi bóng mình xuống giếng. Từ đó, giếng trở thành một phần quan trọng trong hệ thống truyền thuyết gắn với Đền Hùng.

Cổng Đền Giếng được xây dựng dưới thời Nguyễn theo kiểu hai tầng tám mái. Trên cổng có đại tự “Trung sơn tiểu thất”, có thể hiểu là “ngôi nhà nhỏ trong núi”.

Đền Tổ mẫu Âu Cơ, Đền thờ Lạc Long Quân và giá trị của Đền Hùng

Bên cạnh hệ thống đền cổ trên núi Nghĩa Lĩnh, khu di tích còn có các công trình tưởng niệm được xây dựng nhằm mở rộng không gian thờ cúng, giới thiệu và tôn vinh nguồn gốc dân tộc.

Đền Tổ mẫu Âu Cơ được khởi dựng trên đỉnh Ốc Sơn, thường gọi là núi Vặn, vào năm 2001 và khánh thành tháng 12/2004. Quần thể gồm đền chính, tả vu, hữu vu, nhà bia, trụ biểu, tam quan, nhà tiếp khách cùng hệ thống sân vườn.

Đền chính được xây dựng theo kiến trúc truyền thống, sử dụng gỗ lim cho hệ thống cột, xà, hoành và rui, mái lợp ngói mũi hài. Công trình có kiểu chữ “Đinh”, diện tích khoảng 137 m². Bên trong đặt tượng thờ Mẹ Âu Cơ cùng các nhân vật Lạc hầu, Lạc tướng. Đường lên đền gồm 553 bậc đá, tạo thành một hành trình gắn với không gian núi rừng.

Đền thờ Lạc Long Quân được khởi công năm 2007 tại đồi Sim, trên khu đất rộng khoảng 13,79 ha và khánh thành năm 2009. Quần thể gồm nghi môn, trụ biểu, nhà bia, đền chính, tả vu và hữu vu. Đền chính gồm tiền tế, đại bái và hậu cung.

Tượng Lạc Long Quân trong đền được đúc bằng đồng, bệ tượng và lư hương bằng đá khối, các chi tiết trang trí được tạo tác công phu. Việc xây dựng đền thờ Lạc Long Quân và Đền Tổ mẫu Âu Cơ góp phần hoàn chỉnh không gian tưởng niệm về cội nguồn dân tộc, gắn với truyền thuyết Lạc Long Quân – Âu Cơ, “con Rồng cháu Tiên” và thời đại Hùng Vương.

Điểm đặc biệt của Đền Hùng không chỉ nằm ở từng công trình kiến trúc mà còn ở mối liên hệ giữa di tích với cảnh quan tự nhiên và đời sống văn hóa của cộng đồng. Núi Nghĩa Lĩnh, các đền, chùa, lăng, đường hành hương và những không gian cây xanh tạo nên một tổng thể vừa mang giá trị kiến trúc, vừa có ý nghĩa tâm linh sâu sắc.

Hằng năm, Giỗ Tổ Hùng Vương và Lễ hội Đền Hùng thu hút đông đảo nhân dân từ nhiều địa phương về dâng hương, tưởng niệm các Vua Hùng. Hoạt động này thể hiện truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, tưởng nhớ những người được cộng đồng coi là các bậc tiền nhân có công dựng nước.

Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương đã vượt ra ngoài phạm vi một địa phương để trở thành một biểu tượng văn hóa chung của cộng đồng người Việt. Ngày 6/12/2012, UNESCO chính thức ghi danh Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Đền Hùng vì vậy vừa là một di tích lịch sử, kiến trúc và khảo cổ quan trọng, vừa là không gian thực hành tín ngưỡng có sức sống lâu dài trong đời sống cộng đồng. Từ các công trình cổ trên núi Nghĩa Lĩnh đến những công trình tưởng niệm Lạc Long Quân, Âu Cơ, toàn bộ khu di tích tạo thành một không gian văn hóa hướng về nguồn cội, nơi các thế hệ người Việt tìm thấy sự kết nối với truyền thống dựng nước và giữ nước.

Với những giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hóa và khoa học, Di tích lịch sử Đền Hùng được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 1272/QĐ-TTg ngày 12/8/2009. Đây là một trong những địa điểm có ý nghĩa đặc biệt trong hệ thống di sản văn hóa Việt Nam, đồng thời là biểu tượng của truyền thống hướng về cội nguồn và sự cố kết cộng đồng của dân tộc.

5/5 - (1 bình chọn)

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Fill out this field
Fill out this field
Vui lòng nhập địa chỉ email hợp lệ.
You need to agree with the terms to proceed

Liên hệ truyền thông 0938948549

1 result
Bạn sẽ quan tâm?:
Có thể bạn cũng quan tâm: