Địa đạo Vịnh Mốc và Hệ thống làng hầm Vĩnh Linh là một công trình kiến trúc quân sự đặc biệt được hình thành trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, phản ánh rõ nét sức sáng tạo và ý chí bám đất, bám làng của quân dân Vĩnh Linh. Với phương châm “quân sự hóa toàn dân, công sự hóa toàn khu vực”, người dân địa phương đã đào hàng loạt địa đạo, giao thông hào và công sự dưới lòng đất, tạo nên một hệ thống phòng thủ có quy mô lớn. Các công trình được bố trí tại nhiều khu dân cư, ven đường, ruộng đồng và dọc bờ biển, đảm nhiệm nhiều chức năng khác nhau như nơi ở, trụ sở, kho hậu cần, trường học, bệnh viện, trạm phẫu thuật, nơi hội họp và sinh hoạt của các gia đình. Hệ thống đường hầm dưới lòng đất được nối với nhau bằng mạng lưới giao thông hào dày đặc, từng bước hình thành những “làng hầm” độc đáo trong lịch sử chiến tranh Việt Nam.
Từ cuối năm 1965 đến năm 1968, theo thống kê chưa đầy đủ, toàn huyện Vĩnh Linh có 114 địa đạo với tổng chiều dài hơn 40km, hơn 2.000km giao thông hào và hàng trăm tiểu đạo. Hệ thống công sự này trở thành một không gian sinh tồn đặc biệt của quân và dân địa phương trong điều kiện chiến tranh ác liệt. Người dân vừa sản xuất, sinh hoạt, vừa chiến đấu và phục vụ chiến đấu dưới lòng đất, thể hiện quyết tâm “một tấc không đi, một ly không rời”, giữ vững quê hương và bảo đảm sự liên thông với chiến trường phía trước.
Địa đạo Vịnh Mốc và hệ thống làng hầm phân bố trên địa bàn 15 trong tổng số 22 xã, thị trấn của huyện Vĩnh Linh, tạo thành một mạng lưới công sự liên hoàn trải rộng trên một khu vực chiến lược ở phía Bắc Quảng Trị. Trong hệ thống đó, Địa đạo Vịnh Mốc là công trình tiêu biểu nhất, đồng thời các địa đạo Hiền Dũng, Hương Nam, Troong Môn – Cửa Hang, thôn Roọc, các địa đạo Hải quân, Mũi Si và địa đạo 61 góp phần làm rõ quy mô của hệ thống phòng thủ dưới lòng đất Vĩnh Linh.

Địa đạo Vịnh Mốc và các làng hầm ven biển
Địa đạo Vịnh Mốc thuộc thôn Vịnh Mốc và thôn Sơn Hạ, xã Vĩnh Thạch, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị. Địa đạo có tổng chiều dài 1.060,25m, chưa tính các ngách và căn hộ, chiều cao đường hầm phổ biến từ 1,7 đến 1,8m, gồm 13 cửa ra vào. Trong đó, sáu cửa thông lên đồi và bảy cửa thông ra hướng biển. Dọc hai bên trục đường hầm có các ngách nhỏ, mỗi ngách đủ không gian sinh hoạt cho khoảng hai đến bốn người. Nhờ cách bố trí này, địa đạo vừa là nơi trú ẩn, vừa trở thành không gian sống của nhiều gia đình trong thời gian dài.
Bên trong địa đạo còn có hội trường sức chứa khoảng 50 – 60 người, được sử dụng để hội họp, xem phim, biểu diễn văn nghệ và tổ chức các hoạt động cộng đồng. Hệ thống công trình còn có bảng tin, nhà hộ sinh, ba giếng nước, nhà vệ sinh, trạm phẫu thuật, trạm xá và bếp nấu ăn kiểu Hoàng Cầm. Sự hiện diện của các công trình dân sinh và quân sự trong cùng một hệ thống cho thấy địa đạo Vịnh Mốc không đơn thuần là công sự tránh bom mà đã trở thành một khu dân cư dưới lòng đất, nơi người dân có thể duy trì cuộc sống trong điều kiện chiến tranh.
Địa đạo được cấu tạo thành ba tầng. Tầng 1 có tổng chiều dài 421,82m, rộng từ 0,90 đến 1,1m, cao từ 1,6 đến 1,75m và nằm ở độ sâu khoảng 8 – 11m so với mặt đất. Đường hầm có dạng hình vòm, lòng đường, vách và trần được đào khá phẳng. Tầng 2 nằm ở độ sâu khoảng 11 – 15m, dài 508,08m, cao từ 1,6 đến 1,94m và rộng từ 0,8 đến 1,1m. Đường hầm có dạng vòm cuốn, được đào trong lớp đất đỏ bazan tương đối vững chắc.
Tầng 3 là tầng sâu nhất, trục chính dài 130,35m, chủ yếu chạy theo hướng Nam rồi vòng qua hướng Đông. Đường hầm cao từ 1,6 đến 1,74m, rộng từ 0,8 đến 1,1m, nằm sâu khoảng 21 – 22,5m dưới mặt đất. Tại đây có hai giếng nước, một nhà tắm và năm căn hầm được bố trí so le ở hai bên trục chính. Hai hệ thống cửa số 10 và số 12 thông ra biển, đồng thời có các tuyến đường trục kết nối giữa các tầng hầm. Cách tổ chức nhiều tầng ở các độ sâu khác nhau giúp địa đạo tăng khả năng chống chịu trước các cuộc oanh kích và tạo thành hệ thống không gian tương đối độc lập dưới lòng đất.
Ngoài hệ thống đường hầm, Địa đạo Vịnh Mốc còn có các công trình trên mặt đất như giao thông hào, ụ pháo, kè chắn sóng và nhà trưng bày. Sự kết hợp giữa công trình ngầm và công trình nổi tạo thành một hệ thống phòng thủ phù hợp với địa hình ven biển, vừa bảo đảm khả năng trú ẩn, vừa phục vụ chiến đấu và bảo vệ khu dân cư.
Cách Vịnh Mốc không xa là nhiều địa đạo khác tạo nên mạng lưới làng hầm Vĩnh Linh. Hệ thống địa đạo Hiền Dũng tại thôn Hiền Dũng, xã Vĩnh Hòa, gồm địa đạo Ban Chỉ huy Công an nhân dân vũ trang khu vực Vĩnh Linh và địa đạo Thông tin Công an nhân dân vũ trang khu vực Vĩnh Linh. Địa đạo Ban Chỉ huy dài khoảng 1.540m, có 18 cửa lên xuống và 15 giếng thông hơi, hiện chỉ còn cửa số 1 gần khe Cầu tương đối nguyên vẹn. Địa đạo Thông tin có tám cửa lên xuống và 10 giếng thông hơi, tổng chiều dài khoảng 761m nếu tính cả phần còn lại và phần được xác định theo tư liệu, hiện còn cửa số 1, cửa số 2 và giếng thông hơi số 4 ở tầng 1.
Tại xã Vĩnh Kim có hệ thống địa đạo Hương Nam, Troong Môn – Cửa Hang, địa đạo thôn Roọc và các địa đạo Hải quân. Địa đạo Hương Nam thuộc thôn Hương Nam, dài gần 134m, chạy theo hình vòng cung, có hai cửa, một giếng thông hơi và hai nhánh rẽ. Hệ thống địa đạo Troong Môn nằm sát bờ biển, dài khoảng 170,60m, gồm năm cửa, trong đó ba cửa thông lên đồi và hai cửa thông ra biển, với bốn tuyến chính.
Địa đạo Cửa Hang được đào sát bờ biển nên chịu ảnh hưởng của thủy triều và mưa lũ. Qua thời gian, một số đoạn đường hầm bị cát biển bồi lấp khoảng một phần tư. Trục chính chạy theo hướng Đông – Tây, gồm hai cửa. Cửa số 1 mở về hướng Đông, cao 1,05m, rộng 1,2m; cửa số 2 mở về hướng Tây, cao 1,25m, rộng 1,2m. Địa đạo thôn Roọc chạy theo hướng Đông – Tây, lệch về phía Bắc, dài 141,1m, cao từ 1,1 đến 1,9m và rộng từ 0,8 đến 1,1m. Địa đạo có hai cửa, tổng thể giống hình chữ Y với một trục chính và một nhánh rẽ chia thành hai tuyến.
Các địa đạo Hải quân gồm bốn địa đạo nằm về phía Tây Nam thôn Roọc, ở hai bên trong của hai quả đồi có dạng bát úp. Bốn địa đạo nằm gần nhau trong bán kính khoảng 50m, gồm Địa đạo Hải quân 1, Hải quân 2, Hải quân 3 và Hải quân 4. Sự phân bố này cho thấy hệ thống công sự không được xây dựng riêng lẻ mà hình thành mạng lưới liên kết giữa các khu dân cư, đơn vị và vị trí chiến đấu.
Các địa đạo Mũi Si, địa đạo 61 và Địa đạo Hải quân
Tại thị trấn Cửa Tùng có Địa đạo Mũi Si và địa đạo 61, đều là những dấu tích quan trọng trong hệ thống công sự Vĩnh Linh. Địa đạo Mũi Si nằm bên tuyến đường ven biển từ Cửa Tùng đến Địa đạo Vịnh Mốc, thuộc khu phố Thạch Bàn. Khu vực khoanh vùng bảo vệ có diện tích 26.204m², trong đó khu vực I rộng 9.820m² và khu vực II rộng 16.384m². Hiện nay, trên mặt đất là khu vực trồng phi lao chắn gió, nhiều hố bom vẫn còn dấu tích. Qua thời gian và tác động của thiên nhiên, con người, địa đạo đã bị hư hại một phần.
Địa đạo 61 nằm trên trục đường vào xóm Bến, thuộc khu phố An Hòa 2, thị trấn Cửa Tùng, có diện tích khoanh vùng bảo vệ 3.526m², gồm khu vực I rộng 1.675m² và khu vực II rộng 1.851m². Năm 1984, Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Quang xây dựng khuôn viên đài bia tưởng niệm tại đây, sau đó được nâng cấp vào các năm 2002 và 2012. Đài bia và nấm mộ tập thể tại địa đạo 61 là nơi tưởng niệm những nạn nhân thiệt mạng trong vụ sập địa đạo do bom Mỹ ngày 20/6/1967. Dấu tích này nhắc lại một trong những mất mát đau thương của người dân Vĩnh Linh trong những năm chiến tranh, khi cuộc sống dưới lòng đất vẫn không thể hoàn toàn tránh khỏi sức tàn phá của bom đạn.
Địa đạo Hải quân tại xã Vĩnh Nam nằm trên một quả đồi thuộc thôn Nam Cường. Di tích có diện tích khoanh vùng bảo vệ 6.586m², gồm khu vực I rộng 5.049m² và khu vực II rộng 1.537m². Tổng chiều dài đường hầm còn lại là 76,12m, cao từ 1,7 đến 2m và rộng từ 1,6 đến 2m. Đường hầm có cấu trúc vòm cuốn, hai vách tương đối thẳng, phần trần được tạo nhẵn và láng. Hai bên chân vách có các rãnh thoát nước nhỏ. Hiện trạng còn ba đoạn đường hầm chính nối với nhau thành một hệ thống công sự tương đối hoàn chỉnh.
Điểm đặc biệt của Địa đạo Vịnh Mốc và hệ thống làng hầm Vĩnh Linh nằm ở chỗ đây không phải một công trình quân sự đơn lẻ mà là cả một hệ thống không gian sống và chiến đấu được tổ chức trên quy mô rộng. Dưới mặt đất có nơi ở, nơi làm việc, kho tàng, y tế, giáo dục và sinh hoạt cộng đồng; trên mặt đất là giao thông hào, ụ pháo và các vị trí chiến đấu. Hệ thống ấy cho thấy cách quân dân Vĩnh Linh thích ứng với hoàn cảnh chiến tranh bằng việc tổ chức lại không gian sống, đưa nhiều hoạt động thiết yếu xuống lòng đất nhưng vẫn duy trì sự kết nối giữa các khu vực.
Địa đạo vì thế cũng phản ánh rõ nét mô hình chiến tranh nhân dân, trong đó người dân không chỉ là đối tượng cần được bảo vệ mà trực tiếp tham gia xây dựng công sự, vận chuyển, hậu cần, cứu thương, chiến đấu và bảo đảm thông tin liên lạc. Hệ thống làng hầm trở thành biểu tượng cho tinh thần bám đất giữ làng của người dân vùng giới tuyến, góp phần duy trì hậu phương trực tiếp cho chiến trường Quảng Trị và tuyến chi viện vào miền Nam.
Ngày nay, Địa đạo Vịnh Mốc và Hệ thống làng hầm Vĩnh Linh là một quần thể di tích lịch sử đặc biệt, giúp hình dung rõ hơn cuộc sống và hoạt động của quân dân Vĩnh Linh trong những năm chiến tranh. Giá trị của di tích không chỉ nằm ở kỹ thuật đào hầm, tổ chức không gian và khả năng thích ứng với điều kiện địa chất, mà còn ở những câu chuyện về con người từng sinh sống, làm việc và chiến đấu dưới lòng đất. Đây là nguồn tư liệu trực quan quan trọng phục vụ nghiên cứu lịch sử, giáo dục truyền thống cách mạng và giới thiệu với du khách về một chương đặc biệt trong lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Với giá trị đặc biệt tiêu biểu, Di tích lịch sử Địa đạo Vịnh Mốc và Hệ thống làng hầm Vĩnh Linh, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị, đã được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 2408/QĐ-TTg ngày 31/12/2014.










