Phố Hiến từng là một thương cảng và đô thị buôn bán sầm uất của Việt Nam vào thế kỷ XVII – XVIII, nằm bên tả ngạn sông Hồng, trên địa bàn Phường Phố Hiến, Tỉnh Hưng Yên. Với vị trí thuận lợi trên tuyến giao thương đường sông nối vùng biển Đông với kinh thành Thăng Long, Phố Hiến từng trở thành nơi tập trung đông đảo thương nhân trong nước và quốc tế. Sự phát triển của thương mại, cùng quá trình giao lưu giữa người Việt với các cộng đồng người Hoa và thương nhân phương Tây, đã tạo nên một không gian văn hóa đa dạng, từng được ví như “tiểu Tràng An”, gắn với câu ca “Thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì Phố Hiến”.
Trải qua nhiều biến động của lịch sử và sự thay đổi của hệ thống giao thông, thương cảng Phố Hiến dần suy tàn. Tuy nhiên, hệ thống đình, đền, chùa, văn miếu, hội quán và các di tích liên quan đến cộng đồng cư dân, thương nhân trong và ngoài nước vẫn được bảo tồn tại nhiều khu vực của thành phố Hưng Yên. Đây là những dấu tích quan trọng phản ánh diện mạo của một đô thị thương cảng cổ, đồng thời cho thấy quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ từng có quan hệ buôn bán với Phố Hiến.
Khu di tích Phố Hiến gồm 16 di tích có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, kiến trúc, điêu khắc và mỹ thuật, phân bố tại các phường Hiến Nam, Lam Sơn, Quang Trung, Hồng Châu, Lê Lợi và xã Hồng Nam, thành phố Hưng Yên.
Hệ thống di tích tiêu biểu của Phố Hiến
Văn Miếu Xích Đằng nằm tại phường Lam Sơn, được dựng từ thời Lê trên nền chùa cổ Nguyệt Đường và được trùng tu năm Minh Mạng thứ 20 (1839). Với diện tích gần 6.000m², Văn Miếu gồm Văn miếu môn, miếu Thổ thần, lầu Chuông, lầu Khánh, tả vu, hữu vu, tiền tế, trung từ, hậu cung cùng các công trình phụ trợ. Khu nội tự có bố cục chữ “Tam”, là nơi thờ Khổng Tử, Chu Văn An và các bậc tiên hiền của đạo Nho. Đặc biệt, Văn Miếu Xích Đằng còn lưu giữ chín tấm bia đá ghi danh những người đỗ đạt trong các khoa thi của tỉnh Hưng Yên, trở thành nguồn tư liệu quan trọng về truyền thống khoa bảng của vùng đất này.
Đền Mây ở phường Lam Sơn thờ Phạm Bạch Hổ (910 – 983), vị danh tướng từng phù giúp các anh hùng dân tộc Dương Đình Nghệ, Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh và Lê Hoàn trong thế kỷ X. Theo truyền thống, đền được khởi dựng từ thế kỷ X, sau đó được trùng tu, tôn tạo vào các năm 1882 và 1898. Công trình hiện có bố cục chữ “Tam”, gồm năm gian tiền tế, năm gian trung từ và ba gian hậu cung. Nhiều cấu kiện kiến trúc còn tương đối đồng bộ, với những mảng chạm khắc tinh xảo mang phong cách mỹ thuật Hậu Lê đan xen thời Nguyễn.
Đền Kim Đằng ở phường Lam Sơn thờ tướng quân Đinh Điền và phu nhân. Sau nhiều lần hư hại và tu sửa, năm 1994 địa phương phục dựng năm gian tiền tế trên nền cũ và sửa chữa hậu cung. Hiện đền có bố cục chữ “Đinh”, gồm nghi môn, nhà khách, tiền tế năm gian và hậu cung ba gian.
Chùa Chuông ở phường Hiền Nam là một trong những danh lam cổ tích tiêu biểu của Phố Hiến. Chùa được trùng tu vào các năm Chính Hòa thứ 23 (1702) và Vĩnh Thịnh thứ 7 (1711). Tổng thể kiến trúc theo kiểu “Nội công ngoại quốc”, kết hợp với bố cục “Tứ thủy quy đường”, mang đậm dấu ấn nghệ thuật Hậu Lê đan xen Nguyễn. Khu thờ chính gồm tiền đường, thượng điện, hai dãy hành lang, gác chuông, gác khánh, nhà Mẫu và nhà Tổ.
Đình An Vũ, cũng thuộc phường Hiền Nam, thờ Cao Sơn Đại Vương, theo truyền thuyết là người có công giúp Vua Hùng chống giặc. Đình được xây dựng năm Cảnh Hưng thứ 2 (1741), trùng tu năm Bảo Đại thứ 4 (1929), có diện tích khoảng 3.135m² và bố cục chữ “Đinh” gồm nghi môn, đại bái và hậu cung. Các cấu kiện được chạm khắc nhiều đề tài như lá hóa rồng, lá lật, đao lửa, thể hiện phong cách mỹ thuật thời Hậu Lê.
Đền Nam Hòa ở phường Hiến Nam thờ ba vị thần gồm Đức Thiên Quan Đại vương, Đức Thổ Địa Long thần và Đức Thủy Phủ Động đình quân tôn thần. Đền được khởi dựng dưới thời Nguyễn, trải qua thời gian nhiều hạng mục bị phá hủy, sau đó được chính quyền và nhân dân địa phương phục dựng trên nền hậu cung cũ. Hiện công trình có kiến trúc chữ “Nhất”, gồm ba gian và bốn mái theo kiểu kiến trúc truyền thống.
Đền Trần ở phường Quang Trung gắn với Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn, vị anh hùng dân tộc được nhân dân tôn kính với danh hiệu Đức Thánh Trần, Đức Thánh Cha. Đền được khởi dựng từ sớm và đại trùng tu vào năm Tự Đức thứ 16 (1863). Công trình hiện có bố cục chữ “Tam”, gồm tiền tế, trung từ và hậu cung.
Đền Mẫu cũng nằm tại phường Quang Trung, được khởi dựng từ thời Trần Nhân Tông, niên hiệu Thiệu Bảo thứ nhất (1279), và được đại trùng tu năm Thành Thái thứ 8 (1896). Tổng thể gồm nghi môn, đại bái, cung Đệ Nhất, cung Đệ Nhị, cung Đệ Tam, hậu cung, phủ Đông, phủ Tây và hai dãy giải vũ. Đền còn lưu giữ nhiều hiện vật, đồ thờ có giá trị như long sàng, long kỷ, kiệu võng, bát bửu, châm thư, hoành phi, câu đối, tượng và phù điêu mang dấu ấn Lê – Nguyễn. Đặc biệt, nơi đây hiện còn 15 đạo sắc phong có niên đại từ thời Hậu Lê đến thời Nguyễn.
Chùa Phố ở phường Quang Trung được trùng tu, tôn tạo vào cuối thời Lê và tiếp tục được tu bổ lớn vào đầu thế kỷ XX. Việc tu bổ từng gắn với mong muốn phát triển nơi đây thành một trung tâm Phật giáo của tỉnh Hưng Yên. Chùa gồm tam quan, tiền đường, thiêu hương và thượng điện được liên kết theo kiểu “trùng thiềm điệp ốc”, cùng nhà Mẫu, nhà bia và khu tăng xá.
Đền Thiên Hậu ở phường Quang Trung là một dấu tích đặc biệt của cộng đồng người Hoa tại Phố Hiến. Đền thờ bà Lâm Tức Mặc, vị thần Hàng hải được người Phúc Kiến tôn kính và xem là vị thần bảo trợ cho ngư dân, người đi biển. Đền được cộng đồng người Phúc Kiến dựng vào khoảng thế kỷ XVI – XVII và nhiều lần được tu bổ. Tổng thể hiện nay theo kiểu “Nội tự ngoại tế”, gồm tam quan trong, thiêu hương, hậu cung, điện Mẫu và hai dãy giải vũ. Các mảng trang trí với tích truyện Trung Hoa như Tam Quốc, Tây Du ký và cảnh bốn mùa vẫn được bảo lưu tương đối rõ nét, phản ánh sự hiện diện lâu dài của văn hóa Hoa trong không gian Phố Hiến.
Võ Miếu ở phường Quang Trung do cộng đồng người Hoa xây dựng vào thời Lê Cảnh Hưng, khoảng năm 1740, thờ Quan Công thời Tam Quốc. Miếu được trùng tu lớn dưới thời Thành Thái năm 1898. Với diện tích khoảng 612,8m², công trình có bố cục “Nội công ngoại quốc”, kết hợp kiến trúc Việt với phong cách Phúc Kiến, gồm tam quan, sân, giải vũ, tiền tế, thiêu hương và hậu cung.
Đền Bà Chúa Kho ở phường Lam Sơn thờ bà Lê Bạch Nương, người phụ nữ được truyền tụng là trung quân ái quốc và từng được triều đình giao phụ trách kho ngân khố tại Vĩnh Ty Đồn, nay thuộc thành phố Hưng Yên. Đền được xây dựng vào thế kỷ XVII, dưới thời Lê Hy Tông (1676 – 1682), sau đó được trùng tu, tôn tạo dưới thời Nguyễn. Khuôn viên đền rộng khoảng 543m², gồm tiền tế và hậu cung, với nhiều cấu kiện chạm khắc và hiện vật có giá trị.
Cụm Đình – Chùa Hiến ở phường Hồng Châu là một trong những địa điểm quan trọng trong hệ thống di tích Phố Hiến. Đình Hiến được khởi dựng từ sớm và trải qua nhiều lần trùng tu dưới thời Lê – Nguyễn. Công trình có bố cục chữ “Đinh”, gồm đại bái và hậu cung. Các mảng chạm khắc tập trung tại đại bái với các đề tài tứ linh, tứ quý, mang dấu ấn mỹ thuật Lê – Nguyễn.
Chùa Hiến được khởi dựng vào cuối thời Lý, đầu thời Trần và trùng tu lớn vào năm Thành Thái 1892. Chùa có bố cục “Nội công ngoại quốc”, gồm tiền đường, thiêu hương, thượng điện, hai dãy hành lang, hậu điện, nhà Tổ, nhà Mẫu và các công trình phụ trợ. Trong khuôn viên chùa có cây nhãn Tổ nổi tiếng và nhiều hiện vật quý, trong đó có bia đá niên hiệu Vĩnh Tộ thứ 7 (1625) và bia đá niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 5 (1709).
Đông Đô Quảng Hội – Thiên Hậu Cung ở phường Hồng Châu là dấu tích trực tiếp về hoạt động của cộng đồng thương nhân người Hoa tại Phố Hiến. Đông Đô Quảng Hội từng là nơi hội họp của các thương nhân nước ngoài, chủ yếu là người Hoa đến buôn bán tại Phố Hiến từ thế kỷ XVI – XVII, đồng thời là nơi thờ Tam Thánh gồm Thần Thái Y, Thần Hoa Quang và Thần Nông. Thiên Hậu Cung thờ bà Lâm Tức Mặc, vị thần Hàng hải của người Phúc Kiến.
Công trình được dựng vào thế kỷ XVI, năm 1590, do 14 dòng họ người Hoa đóng góp xây dựng. Ban đầu Đông Đô Quảng Hội có ba gian hội quán và ba gian hậu cung; Thiên Hậu Cung gồm ba gian tiền tế và ba gian hậu cung. Qua các đợt tu bổ trong thế kỷ XIX – XX, công trình có diện mạo như hiện nay, với bố cục chữ “Công”, thể hiện sự kết hợp rõ nét giữa kiến trúc Trung Hoa và kiến trúc truyền thống Việt Nam.
Chùa Nễ Châu thuộc xã Hồng Nam được khởi dựng từ thời Tiền Lê, ban đầu chỉ là ba gian nhà lá. Đến thời Hậu Lê, chùa được đại trùng tu. Hiện nay, chùa có bố cục “Nội công ngoại quốc”, gồm tam quan, tiền đường, thượng điện và hai dãy hành lang. Các hạng mục kiến trúc mang những dấu ấn đan xen của nghệ thuật thời Lê và các giai đoạn tu bổ về sau.
Đền Cửu Thiên Huyền Nữ ở phường Lê Lợi thờ Đức Cửu Thiên Huyền Nữ, vị thần được nhân dân tôn kính vì truyền thuyết về việc giúp đỡ con người trong lúc hoạn nạn, nguy nan. Đền được khởi dựng từ sớm và trải qua nhiều lần trùng tu, lần gần đây được nhắc đến là dưới thời vua Bảo Đại năm 1937. Công trình hiện có bố cục chữ “Công”, gồm tiền tế, ống muống và hậu cung.
Phố Hiến, đô thị thương cảng và không gian giao lưu văn hóa
Sự hình thành và phát triển của Phố Hiến gắn chặt với hệ thống giao thông đường thủy trên sông Hồng. Đoạn sông Xích Đằng, một phần của dòng Nhị Hà chảy sát khu vực Phố Hiến, từng giữ vai trò như mạch giao thông quan trọng kết nối thương cảng với các tuyến đường sông từ biển Đông vào khu vực kinh thành Thăng Long. Từ đây hình thành một đô thị có cấu trúc gồm bến cảng, chợ, các phường phố, khu dân cư và những thương điếm của thương nhân phương Tây, trong đó có thương điếm Hà Lan và Anh.
Phố Hiến vì thế không chỉ là nơi mua bán hàng hóa mà còn là một không gian giao lưu quốc tế. Thương nhân từ nhiều vùng miền, cùng cộng đồng người Hoa và người phương Tây, đã tạo nên một diện mạo đô thị đa văn hóa. Dấu ấn của quá trình này được thể hiện rõ qua hệ thống hội quán, đền Thiên Hậu, Đông Đô Quảng Hội, Võ Miếu và các công trình tín ngưỡng khác. Những yếu tố kiến trúc, nghệ thuật, tín ngưỡng và phong tục từ bên ngoài khi kết hợp với văn hóa bản địa đã tạo nên một diện mạo riêng cho Phố Hiến.
Hệ thống di tích hiện còn lưu giữ nhiều loại hình hiện vật và đồ thờ phong phú như chuông, khánh, bia đá, hoành phi, câu đối, kiệu bát cống, ngai, bài vị, sắc phong, tượng Phật và nhiều hiện vật có giá trị khác. Mỗi nhóm di tích lại phản ánh một phương diện khác nhau của lịch sử Phố Hiến, từ truyền thống khoa bảng, tín ngưỡng dân gian, Phật giáo, Nho giáo đến tín ngưỡng thờ các danh tướng, thần linh và tín ngưỡng của cộng đồng người Hoa.
Dù vai trò thương cảng không còn như trước, những di tích còn lại vẫn giúp hình dung về một đô thị từng giữ vị trí quan trọng trong mạng lưới thương mại và giao lưu văn hóa của Việt Nam. Đây cũng là nguồn tư liệu trực tiếp phục vụ nghiên cứu về lịch sử đô thị, thương mại, kiến trúc, mỹ thuật, tôn giáo, tín ngưỡng và đời sống xã hội của Phố Hiến nói riêng cũng như Việt Nam nói chung.
Các giá trị văn hóa của Phố Hiến tiếp tục được cộng đồng địa phương gìn giữ thông qua hệ thống lễ hội truyền thống. Hằng năm, thành phố Hưng Yên tổ chức các hoạt động văn hóa vùng Phố Hiến, thường diễn ra vào tháng Ba âm lịch. Các nghi lễ gồm dâng hương, cầu an, rước kiệu tại các di tích, cùng nhiều hoạt động văn hóa dân gian như thi cầu kiều, kéo co, chọi gà, cờ tướng, bơi chải, đàn và hát dân ca, hội thi thả diều sáo. Các hoạt động giới thiệu ẩm thực, sản phẩm đặc trưng vùng Phố Hiến, trưng bày cổ vật tại Bảo tàng tỉnh cũng góp phần tái hiện và phát huy những giá trị văn hóa của đô thị cổ.
Khu di tích Phố Hiến vì vậy không chỉ là tập hợp những công trình tín ngưỡng, tôn giáo và kiến trúc cổ mà còn là dấu tích vật chất của một đô thị thương cảng từng có quan hệ giao thương rộng mở. Qua hệ thống di tích, hiện vật và lễ hội còn được bảo lưu, lịch sử hình thành, phát triển và quá trình giao lưu văn hóa của Phố Hiến được phản ánh tương đối rõ nét, góp phần làm nổi bật vai trò của vùng đất này trong lịch sử đô thị và thương mại Việt Nam.
Với những giá trị đặc biệt tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, kiến trúc và nghệ thuật, Khu di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật Phố Hiến, thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên, đã được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 2408/QĐ-TTg ngày 31/12/2014.










