Tháp Pô Klong Garai, còn được gọi là Pô Klông Giarai, Pô Klaung Garai, PoKlaun Garai hoặc tháp Bửu Sơn, tọa lạc tại phường Đô Vinh, tỉnh Khánh Hòa. Đây là một trong những công trình kiến trúc Chămpa tiêu biểu nhất còn được bảo tồn tương đối nguyên vẹn, đồng thời là trung tâm sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng quan trọng của cộng đồng người Chăm ở Khánh Hòa ngày nay.
Theo truyền thuyết của người Chăm, tháp Pô Klaung Garai được vua Chế Mân, tức vua Jaya Simhavarman III, cho xây dựng để thờ vua Pô Klong Garai. Ông là vị vua có nhiều công lao đối với cộng đồng Chăm, đặc biệt trong việc chống giặc ngoại xâm, tổ chức khai mương, đắp đập, dẫn thủy nhập điền, giúp ruộng đồng tươi tốt và đời sống cư dân ổn định. Vì những đóng góp đó, Pô Klong Garai được người Chăm tôn kính như một vị vua – tối thượng thần, đồng nhất với thần Siva, và được thờ phụng tại quần thể tháp cho đến ngày nay.
Tháp Pô Klong Garai gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của vùng Panduranga, khu vực cực Nam của vương quốc Chămpa xưa, tương ứng với địa bàn Ninh Thuận và Bình Thuận hiện nay. Dựa trên bia ký, phong cách kiến trúc, nghệ thuật trang trí, các hiện vật và tư liệu liên quan, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng tại vị trí quần thể tháp hiện nay có thể từng tồn tại một đền tháp thờ Siva được xây dựng từ khoảng thế kỷ XI. Về sau, công trình này được chuyển hóa thành nơi thờ vua Pô Klong Garai, kết hợp với tín ngưỡng thờ thần Siva.
Theo cách nhìn này, quần thể hiện nay có thể được xây dựng trên nền móng hoặc được tu bổ, tôn tạo từ một công trình cũ vào khoảng cuối thế kỷ XIII – đầu thế kỷ XIV. Đây vẫn là vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, nhưng căn cứ vào chức năng thờ Pô Klong Garai và diện mạo kiến trúc hiện còn, các nhà nghiên cứu tạm xác định niên đại chính của quần thể vào khoảng cuối thế kỷ XIII – đầu thế kỷ XIV.
Di tích có tổng diện tích 86.969,3m², trong đó khu vực bảo vệ I rộng 1.571,5m² và khu vực bảo vệ II rộng 85.397,8m². Ngoài sân, vườn, tường rào, đường nội bộ, cổng vào di tích, cổng phía Đông, các công trình phục vụ hoạt động văn hóa – du lịch, kiến trúc phụ trợ, miếu thờ và phế tích khảo cổ, hiện nay quần thể còn ba công trình kiến trúc gốc tương đối hoàn chỉnh gồm tháp trung tâm KaLan, tháp cổng Gopura và tháp nhà.

Ba công trình kiến trúc chính của quần thể
Tháp trung tâm KaLan là công trình quan trọng nhất, giữ chức năng tháp thờ chính, được xây dựng trên vị trí trung tâm của ngọn đồi. Tháp cao trên 20m, có mặt bằng hình vuông với kích thước khoảng 10,5m x 10,5m.
Phần đế tháp là một khối hộp xây bằng gạch, có hình dáng như một bệ thờ và thắt lại ở khoảng giữa. Trên đế bố trí các ô hộc chìm theo nguyên tắc đăng đối. Dưới chân cột có các khối ốp hình trụ thon, phía trên đỡ những khối xây hình mũi lao nhọn áp vào chân cột.
Cửa chính mở về hướng Đông, thông vào lòng tháp và chỉ nhô khỏi thân tháp ở mức vừa phải. Hệ thống cửa gồm bốn lớp cột gạch dạng khối vuông, mỗi lớp vươn ra ngoài một mức khác nhau. Cột cửa ngoài cùng được ghép bằng những khối đá, tạo thành khung cửa với chân cột và đầu mũ cột vuông. Trên mặt đứng cột có khắc chữ Chăm cổ. Phía trên là mi cửa bằng đá, để trơn, không trang trí.
Vòm cửa gồm bốn lớp hình mũi lao nhô dần ra phía ngoài. Diềm các lớp vòm được gắn những khối đất nung trang trí hoa văn móc xoắn, uốn cong hướng lên đỉnh. Kết thúc đỉnh vòm là một viên đá chốt có hình dáng giống búp sen. Bên trong vòm cửa có phù điêu thần Siva đứng trên bệ, thân hình trong tư thế nhảy múa, đầu đội mũ chóp nhọn, có sáu tay và chân khuỳnh.
Ba mặt còn lại của tháp là hệ thống cửa giả được bố trí đăng đối. Mỗi cửa giả có hai lớp cột nhô dần ra khỏi thân tháp, phía trên đỡ hai vòm cửa hình mũi lao nhọn. Diềm vòm gắn các khối đất nung có hoa văn móc uốn cong hướng lên. Trong lòng vòm là phù điêu tu sĩ ngồi cầu nguyện trên bệ thờ, đầu đội mũ hình trụ tròn, hai tay chắp trước ngực, hai chân xếp bằng, lòng bàn chân ngửa lên.
Mỗi mặt tường tháp có năm cột, bao gồm cả cột góc. Các cột có dạng khối đơn, bề mặt để trơn, giữa các cột là những khe hẹp chạy dọc, được tạo bởi nhiều lớp gờ ăn sâu vào tường. Ở chính giữa mặt tường nổi lên một dải gờ cao chạy dọc, chia đều khoảng cách giữa các cột. Phần diềm mái gồm nhiều lớp gờ nhô dần ra, đỡ lấy bộ mái phía trên. Lớp gờ giáp mái uốn cong thành hình bát hướng lên, trên mặt có hoa văn cánh sen xếp nghiêng thành dải bao quanh thân tháp.
Phân cách giữa diềm thân và bộ mái là các đá điểm góc trang trí hoa văn uốn xoắn ốc nhiều lớp hoặc hình các tiên nữ apsara chắp tay thành kính. Những chi tiết này tạo nên sự mềm mại, sinh động cho tổng thể kiến trúc vốn chủ yếu được cấu tạo từ các khối gạch vuông vức.
Bộ mái tháp trung tâm gồm ba tầng thu nhỏ dần về phía đỉnh. Mỗi tầng là hình ảnh mô phỏng thu nhỏ của tầng bên dưới, được phân cách bằng các diềm nhiều lớp gờ nhô ra. Ở tầng mái thứ nhất, bốn góc có các tháp góc trang trí. Tháp góc gồm phần đế bằng gạch có hình bệ thờ thắt giữa, hai đầu uốn cong đối xứng, trên mặt có hoa văn cánh sen nghiêng xếp lớp. Phía trên là khối trụ bốn mặt thu nhỏ dần về đỉnh.
Thân tầng mái thứ nhất mô phỏng thân tháp chính với bốn mặt được bố trí cửa đối xứng. Mỗi mặt có năm cột, chân cột trang trí các khối ốp hình mũi lao. Cửa có hai lớp cột nhô dần ra, phía trên là vòm hình mũi lao nhọn, bên trong gắn phù điêu tu sĩ ngồi cầu nguyện. Tầng mái thứ hai và thứ ba được thể hiện tương tự nhưng thu nhỏ dần. Tháp góc ở các tầng trên chỉ còn phần đế mỏng, phía trên là khối trụ bốn mặt và kết thúc bằng khối đá trụ tròn, biểu tượng của Linga.
Ở tầng mái thứ ba, do phù điêu trong vòm không còn, bốn góc đỉnh tháp được gắn hình đầu linh vật vươn ra ngoài như các đá điểm góc. Chính giữa đỉnh là một khối đá trụ tròn lớn, cũng là biểu tượng Linga, nhấn mạnh chức năng thờ Siva và sự kết hợp giữa hình tượng thần linh với hình ảnh vị vua được thần hóa.
Tháp cổng Gopura nằm ở phía Đông tháp trung tâm, có mặt bằng hình vuông, cao khoảng 10m và là hình ảnh thu nhỏ của tháp chính. Tháp mở hai cửa theo hướng Đông – Tây, nằm trên cùng một trục với cửa chính của tháp thờ.
Công trình được xây trên một nền gạch lớn. Đế tháp có hình bệ thờ thắt giữa nhưng thấp hơn tháp trung tâm. Hai cửa thông nhau qua thân tháp, đối xứng theo trục Đông – Tây. Cột cửa gồm hai lớp gạch dạng khối, nhô dần ra phía ngoài. Phía trên là mi cửa bằng đá để trơn, đỡ vòm cửa hai lớp hình cung nhọn, diềm vòm gắn các khối đất nung trang trí.
Cột góc tháp có dạng khối lớn, thể hiện đơn giản, không trang trí. Các cột tường gần như được thay thế bằng hệ thống cột cửa nhô ra, tạo cho thân tháp vẻ thanh thoát. Diềm mái gồm nhiều lớp gờ nhô dần, riêng lớp gờ uốn cong thành hình bát hướng lên được để trơn. Bộ mái gồm ba tầng thu nhỏ dần, có tháp góc trang trí ở các góc. Bốn mặt các tầng mái đều có cửa đối xứng, nhưng trong lòng vòm không gắn phù điêu. Đỉnh tháp kết thúc bằng một khối trụ tròn vươn lên.
Tháp nhà nằm phía trước tháp thờ chính, xế về phía Đông – Nam. Công trình được xem là nơi chứa đồ thờ phục vụ nghi lễ hoặc có thể là tháp thờ thần Hỏa, tức thần lửa Anhi. Tháp có mặt bằng hình chữ nhật, quay theo hướng Đông – Tây, dài khoảng 8m, rộng 4m và cao gần 10m. Lòng tháp được chia thành hai phòng, mở ba cửa, gồm hai cửa thông nhau theo trục Bắc – Nam và một cửa quay về hướng Đông.
Tháp được xây trên nền gạch lớn, phần đế thắt giữa với nhiều lớp gờ nhô ra. Cửa có hai lớp cột khối trơn, phía trên là mi cửa bằng đá đỡ vòm hai lớp hình mũi lao nhọn. Khoảng giữa các cột là các ô chìm vào thân tháp, tạo bởi những đường gờ giật cấp sâu dần, ở giữa nổi lên một dải gờ chạy dọc theo chiều cao cột.
Hai đầu hồi có cấu trúc khác nhau. Đầu hồi phía Tây thể hiện ba cột tường, trong khi đầu hồi phía Đông mở cửa hình cung nhọn. Cột tường phần lớn được ẩn vào khung cửa, chỉ còn hệ thống cột góc. Diềm mái gồm nhiều lớp gờ nhô dần, uốn cong thành hình bát hướng lên và để trơn. Phía trên mặt diềm có những hình ốp tạo thành dải trang trí nổi.
Bộ mái tháp nhà khá đặc biệt với bốn tháp góc có cấu tạo tương tự tháp góc trên mái tháp cổng. Mỗi tháp góc gồm bốn tầng thu nhỏ dần từ dưới lên, được phân chia bằng các khối đất nung có trang trí và kết thúc bằng hình khối nhọn. Thân tầng mái có mặt bằng hình chữ nhật, bốn góc là các cột khối trơn, dọc chiều dài có năm cột, còn hai đầu hồi mỗi bên có ba cột.
Phía trên là bộ mái uốn cong hình yên ngựa, với gạch xây cuốn cong như mui luyện. Hai đầu đốc gắn các phiến đá uốn cong, diềm đầu đốc có các hình đất nung trang trí, trong khi bề mặt hai đầu đốc được để trơn.
Hiện vật, tín ngưỡng và giá trị văn hóa của di tích
Trong lòng tháp nhà hiện vẫn còn tương đối nguyên vẹn bệ thờ Yoni – Linga. Trên Linga có hình MuKhaLinga, tức hình ảnh vị vua được thờ thể hiện trên biểu tượng Linga. Theo truyền thuyết Chăm, đó chính là hình ảnh vua Pô Klong Garai đã được thần hóa và hóa thân vào biểu tượng thờ của thần Siva.
Trong phạm vi di tích hiện còn một tượng Linga – Yoni Pô Klong Garai, một số tượng gắn xung quanh các tháp, một tượng bò Nandin, hai bia ký khắc trên cửa tháp, một bia đá ba mặt có chữ và một bia không còn chữ. Ngoài ra còn có tượng Kút hoàng hậu và một trụ đá Linga nằm ngoài vòng thành phía Nam quần thể. Một số hiện vật khác vốn thuộc di tích hiện đang được Bảo tàng Ninh Thuận bảo quản, trưng bày và phát huy giá trị.
Vượt qua nhiều biến động lịch sử, Tháp Pô Klong Garai cùng các tháp Chăm khác vẫn giữ vai trò là nơi quy tụ, cố kết cộng đồng, duy trì bản sắc văn hóa tộc người và thể hiện sự đa dạng văn hóa trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Di tích không chỉ là công trình tôn giáo mà còn là biểu tượng của ký ức lịch sử, niềm tự hào cộng đồng và sự tiếp nối truyền thống Chăm qua nhiều thế kỷ.
Trong lịch sử nghiên cứu nghệ thuật Chămpa, Pô Klong Garai được xếp vào phong cách Muộn, sau các phong cách Mỹ Sơn E1, Hòa Lai, Đồng Dương, Mỹ Sơn A1 và Bình Định. Đây được xem là một trong những nhóm đền tháp được xây dựng hoàn chỉnh ở giai đoạn cuối của kiến trúc Chămpa. Sự tồn tại của quần thể góp phần làm rõ sự đa dạng về phong cách, kỹ thuật xây dựng và nghệ thuật trang trí của kiến trúc tháp Chăm, một nền kiến trúc đã phát triển liên tục trong hơn mười thế kỷ thời Trung đại.
Hằng năm, tại di tích diễn ra nhiều hoạt động văn hóa, tôn giáo và tín ngưỡng của cộng đồng người Chăm cùng khách thập phương. Nổi bật nhất là lễ Katê, Tết truyền thống của người Chăm theo đạo Bàlamôn. Đây là lễ hội có hệ thống nghi lễ, âm nhạc, trang phục, múa hát và trò diễn đặc trưng, thu hút đông đảo cộng đồng tham gia.
Hiện chưa có tư liệu xác định chính xác lễ Katê xuất hiện từ thời điểm nào. Tuy nhiên, đồng bào Chăm theo đạo Bàlamôn tại Ninh Thuận và Bình Thuận thường tổ chức lễ vào các ngày từ 30/6, 1/7 đến 10/7 theo lịch Chăm, tương ứng với khoảng tháng 9, tháng 10 hoặc tháng 11 dương lịch. Ngày đầu tiên diễn ra tại các đền tháp; ngày thứ hai tổ chức tại nhà chung của làng; ngày thứ ba diễn ra tại nhà cả sư; từ ngày thứ tư đến ngày 10/7 dành cho các gia đình.
Theo chu trình nông lịch, Katê diễn ra vào thời điểm cuối mùa Thu, khi mùa màng đã thu hoạch xong, người dân có thời gian nghỉ ngơi, sum họp và chuẩn bị cho vụ mùa tiếp theo. Với vị trí là trung tâm thờ phụng Pô Klong Garai, quần thể tháp đã trở thành một trong những không gian cốt lõi để tổ chức lễ Katê, đồng thời liên kết các cộng đồng và vùng văn hóa Chăm ở Ninh Thuận nói riêng và trong cả nước nói chung.
Tháp Pô Klong Garai vì thế không chỉ có giá trị nổi bật về kiến trúc, nghệ thuật và khảo cổ học mà còn là không gian thực hành văn hóa sống, nơi các nghi lễ truyền thống, ký ức lịch sử và bản sắc cộng đồng được duy trì qua nhiều thế hệ.
Với những giá trị đặc biệt tiêu biểu, Di tích kiến trúc nghệ thuật Tháp Pô Klong Garai, thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận, được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng là Di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 2499/QĐ-TTg ngày 22/12/2016.











