Tháp Vĩnh Hưng, còn được gọi là Tháp Trà Long hoặc Tháp Lục Hiền, là một di tích khảo cổ có giá trị đặc biệt, nằm tại ấp Trung Hưng 1B, xã Châu Thới, tỉnh Cà Mau. Di tích tọa lạc trên một khu đất rộng khoảng 5 ha, là nơi lưu giữ dấu tích cư trú và hoạt động tôn giáo của cộng đồng cư dân cổ thuộc Văn hóa Óc Eo, với niên đại kéo dài từ khoảng thế kỷ IV đến thế kỷ XIII sau Công nguyên.
Tháp Vĩnh Hưng là công trình kiến trúc cổ bằng gạch còn được bảo tồn tại khu vực Tây Nam Bộ, đồng thời là địa điểm khảo cổ quan trọng với hệ thống hiện vật phong phú gồm tượng thần bằng đồng, tượng đá, Linga – Yoni, đồ gốm và nhiều loại di vật khác. Đặc biệt, các cuộc khai quật tại đây đã phát hiện nhiều hiện vật có giá trị cao, trong đó có 5 bảo vật quốc gia.
Với những giá trị nổi bật về lịch sử, khảo cổ, kiến trúc và văn hóa, Di tích khảo cổ Vĩnh Hưng được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 694/QĐ-TTg ngày 18/7/2024, thuộc đợt xếp hạng thứ 15.
Lịch sử hình thành và nghiên cứu Tháp Vĩnh Hưng
Tháp Vĩnh Hưng được xây dựng trên một doi đất cao hơn mặt ruộng xung quanh khoảng 0,5m. Kết quả nghiên cứu khảo cổ học cho thấy khu vực này từng tồn tại một trung tâm cư trú của cộng đồng cư dân cổ, với niên đại khởi điểm khoảng thế kỷ IV sau Công nguyên, thuộc phạm trù Văn hóa Óc Eo.
Không gian cư trú không chỉ giới hạn trên khu đất cao nơi xây dựng tháp mà còn mở rộng ra khu vực xung quanh, với trung tâm khoảng 5 ha và phạm vi có thể lên tới hàng chục hecta. Qua các đợt thám sát và khai quật, các nhà khảo cổ đã phát hiện nhiều dấu tích sinh hoạt như bình, nồi, vò đất nung, đồ gốm, than tro và các di vật phục vụ đời sống.
Đến khoảng thế kỷ VII sau Công nguyên, Tháp Vĩnh Hưng được xây dựng và trở thành một công trình tôn giáo quan trọng của khu vực. Công trình tiếp tục được sử dụng, sửa chữa và biến đổi qua các giai đoạn sau, kéo dài đến khoảng thế kỷ XIII.
Năm 1911, kiến trúc sư người Pháp Lunet de Lajonquière khảo sát và ghi nhận công trình với tên gọi Tháp Trà Long. Năm 1927, nhà khảo cổ học Henri Parmentier tiếp tục nghiên cứu và công bố kết quả trên tập san của Trường Viễn Đông Bác cổ Pháp, sử dụng tên gọi Tháp Lục Hiền.
Đến năm 1990, các nhà khảo cổ thuộc Viện Khoa học Xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với Bảo tàng tỉnh Minh Hải tiến hành đào thám sát, phát hiện nhiều hiện vật quan trọng như đầu tượng thần, bàn nghiền, minh văn, Linga – Yoni và các dấu tích kiến trúc. Kết quả nghiên cứu bước đầu xác định niên đại kiến trúc tháp khoảng thế kỷ VII – VIII, thuộc giai đoạn phát triển muộn của Văn hóa Óc Eo.
Năm 1992, Tháp Vĩnh Hưng được xếp hạng di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia theo Quyết định số 983 VHQĐ.
Các cuộc khai quật quy mô hơn được tiến hành vào các năm 2002 và 2011, tập trung vào khu vực xung quanh tháp. Những đợt khai quật này giúp làm rõ cấu trúc chân móng, các lớp văn hóa nằm dưới lòng đất và thu thập thêm nhiều hiện vật có giá trị, phục vụ công tác nghiên cứu, bảo tồn và trùng tu di tích.

Kiến trúc Tháp Vĩnh Hưng
Tháp được xây dựng trên mặt bằng gần hình vuông, có kích thước khoảng 9,36m x 9,44m, chiều cao còn lại gần 9,5m, chưa tính phần đỉnh tháp nguyên thủy. Công trình kín ba mặt, mặt còn lại là cửa tháp mở về hướng Tây Nam hơi chếch về phía Tây.
Phần tường phía dưới có độ dày khoảng 1,8m. Từ độ cao khoảng 4m trở lên, tường thu nhỏ còn khoảng 1m và càng lên cao càng mỏng, đến gần đỉnh chỉ còn khoảng 0,55m. Các bức tường không hoàn toàn thẳng đứng mà hơi uốn cong vào phía trong, tạo thành kết cấu vòm.
Khác với nhiều tháp Champa ở miền Trung, Tháp Vĩnh Hưng không có hệ thống giật cấp rõ rệt, không có các trụ giả ở mặt ngoài, cửa giả hay những mảng trang trí hoa văn phong phú trên thân tháp. Kiến trúc tương đối đơn giản nhưng tạo được một khối công trình vững chắc.
Một đặc điểm đáng chú ý là giải pháp xử lý nền móng. Bên dưới công trình có khối lượng lớn gạch, đá cùng cát nâu vàng và vỏ sò được đập nhỏ. Việc tạo một nền móng rộng giúp phân bổ trọng lượng của công trình trên nền đất yếu, góp phần lý giải khả năng tồn tại tương đối ổn định của tháp qua nhiều thế kỷ.
Vật liệu xây dựng chủ yếu gồm gạch, đá và ngói. Gạch có nhiều kích thước, trong đó phổ biến là loại hình chữ nhật khoảng 29 x 15 x 7cm và 30,5 x 15 x 7cm. Một số loại gạch nêm hình thang, gạch có vai và gạch tam giác cũng được phát hiện nhưng số lượng không nhiều.
Trong phần móng còn tìm thấy những phiến đá lớn có thể được sử dụng làm mi cửa hoặc kết hợp với các lớp vật liệu tạo móng. Một số tảng đá ong cũng xuất hiện trong kết cấu tường tháp, tương tự loại vật liệu từng được sử dụng ở một số công trình kiến trúc cổ khác tại Nam Bộ.
Phần thân tháp từ chân đến độ cao gần 5m chủ yếu sử dụng gạch màu nâu đỏ. Phần phía trên sử dụng gạch có màu xám trắng, xám và nâu. Giữa các viên gạch không phát hiện lớp vữa xây theo cách thông thường. Từ đặc điểm này, các nhà nghiên cứu đưa ra giả thuyết rằng cư dân cổ có thể đã sử dụng một loại chất kết dính dạng lỏng để liên kết các viên gạch, tạo nên độ chắc chắn cho công trình.
Bên trong tháp từng phát hiện Linga – Yoni bằng đá xanh, biểu tượng gắn với tín ngưỡng phồn thực và hệ thống tín ngưỡng Hindu giáo của cư dân cổ Nam Bộ.
Những phát hiện khảo cổ nổi bật
Giá trị đặc biệt của Tháp Vĩnh Hưng không chỉ nằm ở kiến trúc còn tồn tại mà còn ở hệ thống hiện vật phong phú được phát hiện qua nhiều đợt thám sát và khai quật.
Nổi bật nhất là bộ sưu tập tượng đồng phát hiện năm 2002, được đánh giá có giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hóa và nghệ thuật. Nhiều tượng có kỹ thuật đúc tinh xảo, hình thức độc đáo và thể hiện sự giao lưu văn hóa sâu rộng giữa cư dân Nam Bộ cổ với khu vực Nam Á, đặc biệt là truyền thống văn hóa Ấn Độ.
Tượng Sadasiva
Tượng Sadasiva, còn gọi là tượng Siva năm đầu, được phát hiện trong bồn chứa nước thiêng ở phía Bắc Tháp Vĩnh Hưng trong cuộc khai quật năm 2002. Tượng bằng đồng, cao khoảng 32,3cm, nặng 2,7kg, có niên đại khoảng thế kỷ XII – XIII.
Tượng được thể hiện trong tư thế đứng, có năm đầu hoặc một đầu với bốn mặt và mười tay. Sadasiva là một dạng biểu hiện của thần Siva trong hệ thống tín ngưỡng Hindu giáo, gắn với quyền năng sáng tạo và sinh sôi.
Đây là một hiện vật đặc biệt, góp phần phản ánh ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ đối với đời sống tôn giáo của cư dân Nam Bộ trong giai đoạn hậu Óc Eo.
Tượng Nam thần
Tại bồn chứa nước thiêng phía Bắc tháp còn phát hiện nhiều tượng đồng Nam thần có niên đại khoảng thế kỷ XII – XIII.
Một tượng có kích thước khoảng 22 x 11cm, nặng 2,1kg, được thể hiện trong tư thế ngồi, chân phải chống cao, chân trái xếp bằng và có nhiều mô típ trang trí tinh xảo. Một tượng khác dài khoảng 19cm, rộng 10cm, nặng 1,8kg, cũng được thể hiện trong tư thế ngồi với hai tay và hệ thống hoa văn trang trí phong phú.
Những tượng này là nguồn tư liệu quan trọng để nghiên cứu nghệ thuật tạo tượng và đời sống tín ngưỡng của cư dân cổ tại Vĩnh Hưng.
Tượng Nữ thần Parvati
Tượng Nữ thần Parvati được hoàn chỉnh qua hai đợt thám sát và khai quật vào các năm 1990 và 2002. Tượng được chế tác bằng đá sa thạch màu xanh xám, cao khoảng 78cm, có niên đại vào cuối thế kỷ VII hoặc đầu thế kỷ VIII.
Tượng thể hiện một nữ thần với khuôn mặt và vóc dáng trẻ trung, được tạo tác theo phong cách tượng tròn có nhiều đặc điểm gần với nghệ thuật Phù Nam – Óc Eo. Dựa trên hình trăng tròn trên mũ miện, kiểu tóc và tư thế tạo hình, các nhà nghiên cứu xác định đây có thể là hình tượng Parvati, người phối ngẫu của thần Siva.
Các bảo vật quốc gia
Qua các cuộc khai quật, Tháp Vĩnh Hưng đã cung cấp nhiều hiện vật đặc biệt có giá trị. Trong đó, 5 hiện vật được Thủ tướng Chính phủ công nhận là Bảo vật quốc gia, gồm:
- Tượng Nữ thần Laksmi.
- Tượng thần Sada Shiva.
- Đầu tượng thần Shiva.
- Phù điêu Nữ thần Uma.
- Tượng Nam thần.
Các hiện vật này có giá trị nổi bật về nghệ thuật, lịch sử và khảo cổ học, đồng thời cung cấp những bằng chứng quan trọng về sự phát triển của Văn hóa Óc Eo và những mối giao lưu văn hóa, tôn giáo giữa Nam Bộ với các khu vực bên ngoài.
Không gian di tích và các công trình phụ trợ
Ngoài tháp cổ, khuôn viên di tích hiện có một số công trình phục vụ công tác bảo vệ, giới thiệu và phát huy giá trị như nhà trưng bày, nhà bia, nhà làm việc của Ban Quản lý, cổng và hệ thống tường rào.
Cổng di tích được xây dựng theo phong cách kiến trúc truyền thống với ba cửa. Cửa giữa rộng khoảng 5,42m, cao 6,63m; hai cửa bên rộng khoảng 1,07m, cao 4,3m. Công trình sử dụng kết cấu bê tông cốt thép kết hợp tường gạch, mái dán ngói mũi và hệ thống tường bao cao khoảng 2,7m.
Nhà bia có mặt bằng hình lục giác, cao khoảng 5,5m, mỗi cạnh rộng 4,37m. Công trình gồm sáu cột tròn, hệ thống hoành, rui và mái lợp ngói mũi. Bia đá đặt ở vị trí trung tâm, cao khoảng 3,1m, rộng 1,34m, giới thiệu lịch sử và giá trị của Tháp Vĩnh Hưng.
Nhà trưng bày có mặt bằng hình chữ Đinh, dài khoảng 16,8m, rộng 13,5m và cao 7,3m. Đây là nơi giới thiệu các kết quả nghiên cứu khảo cổ và những hiện vật liên quan đến lịch sử hình thành, phát triển của khu di tích.
Bảo tồn và phát huy giá trị Tháp Vĩnh Hưng
Sau nhiều thế kỷ tồn tại trong điều kiện khí hậu nhiệt đới Nam Bộ, Tháp Vĩnh Hưng chịu tác động của môi trường, thời tiết và quá trình lão hóa vật liệu. Một số hạng mục trong khu di tích và thiết bị phục vụ tham quan đã xuống cấp. Thân tháp được gia cố bằng các thanh kim loại, tuy nhiên hiện tượng gạch rơi rớt vẫn xảy ra, đặt ra yêu cầu tiếp tục bảo vệ và tu bổ công trình.
Trong các cuộc khảo sát gần đây, cơ quan quản lý địa phương đã ghi nhận nhu cầu nâng cấp cảnh quan, hạ tầng và các giải pháp che chắn nhằm hạn chế tác động trực tiếp của thời tiết đối với tháp cổ. Việc bảo tồn cần đặt trọng tâm vào giữ gìn tối đa các yếu tố gốc của công trình, đồng thời bảo đảm an toàn cho di tích và khách tham quan.
Việc Tháp Vĩnh Hưng được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt mở ra cơ sở quan trọng để tiếp tục nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị của khu di tích. Không gian này không chỉ là địa điểm khảo cổ mà còn có tiềm năng trở thành nơi giới thiệu lịch sử Văn hóa Óc Eo, nghệ thuật tôn giáo cổ và quá trình giao lưu văn hóa của cư dân Nam Bộ với khu vực rộng lớn hơn.
Từ một công trình tôn giáo cổ còn lại giữa vùng đồng bằng Tây Nam Bộ, Tháp Vĩnh Hưng ngày nay trở thành một địa điểm quan trọng trong nghiên cứu lịch sử và khảo cổ học Nam Bộ. Những lớp cư trú có niên đại từ khoảng thế kỷ IV, kiến trúc tháp từ giai đoạn Óc Eo phát triển, cùng hệ thống tượng thần và hiện vật quý giá đã tạo nên một nguồn tư liệu đặc biệt về đời sống của cư dân cổ trong nhiều thế kỷ.
Với những giá trị nổi bật đó, Di tích khảo cổ Vĩnh Hưng được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 694/QĐ-TTg ngày 18/7/2024, trở thành một trong những địa điểm quan trọng trong hệ thống di sản khảo cổ của khu vực Nam Bộ.










