Căn cứ Bộ Chỉ huy Quân giải phóng miền Nam Việt Nam, còn được gọi là Căn cứ Quân ủy Bộ Chỉ huy các lực lượng vũ trang quân giải phóng miền Nam Việt Nam hay Rừng Chính phủ, nằm tại khu vực sóc Tà Thiết, xã Lộc Thành, Thành phố Đồng Nai. Đây là một trong những căn cứ quân sự quan trọng của cách mạng miền Nam trong những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đồng thời là nơi ghi dấu nhiều hoạt động chỉ đạo, chỉ huy chiến lược có ý nghĩa đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước.
Bộ Chỉ huy Miền là cơ quan tiền phương của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, có nhiệm vụ theo dõi, nghiên cứu tình hình chiến sự tại miền Nam, tham mưu cho Quân ủy Trung ương và Trung ương Cục miền Nam trong việc đề ra những chủ trương, quyết sách quân sự phù hợp với từng giai đoạn của chiến trường. Cơ quan này đồng thời trực tiếp lãnh đạo, chỉ huy các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam, phối hợp với quân dân cả nước trong cuộc đấu tranh chống Mỹ và chính quyền Sài Gòn, tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Trong thời gian căn cứ được đặt tại Tà Thiết từ năm 1972 đến năm 1975, nơi đây là địa điểm sinh sống, làm việc và tổ chức các hoạt động chỉ đạo của nhiều cán bộ lãnh đạo, chỉ huy quân sự cấp cao, tiêu biểu như Đại tướng Lê Đức Anh, Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam; đồng chí Phạm Hùng, Chính ủy Bộ Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam; Thượng tướng Trần Văn Trà, Tư lệnh Bộ Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam; Đại tướng Hoàng Văn Thái, Tư lệnh Bộ Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam; Thiếu tướng Nguyễn Thị Định, Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam; Đại tướng Văn Tiến Dũng, Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh cùng nhiều cán bộ, chiến sĩ khác.
Quá trình hình thành và phát triển căn cứ Tà Thiết
Ngày 31/01/1961, Tổng Quân ủy ra chỉ thị thống nhất các lực lượng vũ trang ở miền Nam thành Quân giải phóng miền Nam Việt Nam, một bộ phận của Quân đội nhân dân Việt Nam. Ngày 15/02/1961, Quân giải phóng miền Nam Việt Nam tổ chức lễ ra mắt tại Chiến khu Đ. Cùng với quá trình thống nhất lực lượng, hệ thống cơ quan chỉ huy được tổ chức từ cấp Miền đến khu, tỉnh, huyện và xã.
Cơ quan chỉ huy cao nhất ban đầu là Ban Quân sự Miền, được hình thành trên cơ sở phát triển tổ chức Ban Quân sự Liên khu ủy miền Đông Nam Bộ. Đây là tổ chức tiền thân của Bộ Chỉ huy Miền được thành lập vào tháng 10/1963, sau đó phát triển thành Bộ Tư lệnh các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng từ tháng 3/1971 đến tháng 7/1976. Các cơ quan này trực thuộc Trung ương Cục miền Nam, có nhiệm vụ tham mưu cho Trung ương Cục và trực tiếp chỉ đạo, chỉ huy lực lượng vũ trang nhân dân trên chiến trường Nam Bộ, cực Nam Trung Bộ và Nam Tây Nguyên.
Tháng 9/1961, Trung ương Cục quyết định di chuyển cơ quan lãnh đạo Trung ương Cục, Ủy ban Trung ương Mặt trận và Ban Quân sự Miền từ Khu A về Khu B, đặt căn cứ tại vùng Trảng Chiên, Xa Mát, Lò Xo, phía Bắc Tây Ninh, gần khu vực biên giới Việt Nam và Campuchia. Đến tháng 3/1965, Bộ Chỉ huy Miền tiếp tục di chuyển về căn cứ Bà Chiêm – Sóc Con Trăng.
Năm 1970, trước những thay đổi của tình hình chiến trường, Bộ Chỉ huy Miền từng bước xây dựng hệ thống căn cứ liên hoàn, đồng thời hình thành thế trận phối hợp Việt Nam – Campuchia trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung. Một bộ phận lực lượng được điều động sang Campuchia xây dựng các khu căn cứ trực thuộc. Ngày 18/3/1971, Bộ Chỉ huy Miền đổi tên thành Bộ Tư lệnh Miền.
Sau đó, Bộ Tư lệnh Miền di chuyển căn cứ từ Bà Chiêm – Sóc Con Trăng và các khu căn cứ ở Campuchia về sóc Tà Thiết, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước. Tà Thiết trở thành căn cứ cuối cùng của Bộ Tư lệnh Miền trong giai đoạn 1973 – 1975, trước khi cuộc kháng chiến kết thúc.
Từ đầu năm 1973, căn cứ Tà Thiết được xây dựng tương đối hoàn chỉnh, tổ chức thành hai khu vực gồm vòng trong và vòng ngoài. Khu vực vòng trong tập trung các cơ quan đầu não của Bộ Tư lệnh, Cục Tham mưu, Cục Chính trị, cơ quan Chủ nhiệm Hậu cần và một số nhà khách phục vụ việc đón tiếp cán bộ từ Trung ương Cục sang làm việc. Các công trình chủ yếu được bố trí dọc hai phía Tây và Đông suối Khơlay, xung quanh sóc Tà Thiết.
Khu vực vòng ngoài mở rộng về phía các xã Lộc Thành, Lộc Tấn, bố trí những đơn vị trực thuộc các cục như trường huấn luyện, bệnh viện, cơ quan thông tin và các bộ phận phục vụ khác. Các cơ quan hậu cần, kho hậu cần thuộc Cục Hậu cần Miền được bố trí tại nhiều địa điểm thuộc các xã Lộc Quang, Lộc Hòa, Lộc Hiệp và Lộc Tấn. Vị trí này nằm gần tuyến vận tải chiến lược đường 559, tức đường Trường Sơn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp nhận hàng hóa, vũ khí và các nguồn chi viện từ miền Bắc vào chiến trường miền Nam.
Từ căn cứ Tà Thiết, Bộ Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam đã tổ chức và chỉ đạo nhiều hoạt động quân sự quan trọng trong những năm cuối của cuộc chiến. Tiêu biểu là trận tiêu diệt yếu khu Bù Bông, chi khu Kiến Đức năm 1973, góp phần mở rộng hành lang vận chuyển chiến lược đường Trường Sơn vào Nam Bộ; chỉ đạo đánh vào tổng kho xăng dầu Nhà Bè vào tháng 11/1973, một trong những cơ sở hậu cần nhiên liệu quan trọng của đối phương tại miền Nam; chỉ đạo Chiến dịch Tây Bến Cát tháng 5/1974; phối hợp giải phóng đường 14 và Phước Long, tạo thêm thế và lực cho cách mạng miền Nam.
Những hoạt động chỉ đạo, chỉ huy từ căn cứ Tà Thiết tiếp tục được triển khai trong giai đoạn chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975. Bộ Tư lệnh Miền tham gia xây dựng thế trận, tạo lực lượng và chuẩn bị các điều kiện cho chiến dịch cuối cùng giải phóng Sài Gòn – Gia Định và hoàn toàn miền Nam, đồng thời phối hợp chỉ đạo tiến công tuyến phòng thủ Xuân Lộc – Long Khánh vào đầu tháng 4/1975.
Không gian di tích và các công trình tiêu biểu
Sau ngày miền Nam được giải phóng, đất nước thống nhất, phần lớn các công trình của căn cứ bị xuống cấp hoặc hư hỏng theo thời gian. Di tích sau đó được trùng tu, phục hồi nhằm bảo tồn không gian lịch sử và tái hiện một phần diện mạo căn cứ Bộ Tư lệnh Miền trong những năm cuối của cuộc kháng chiến.
Hiện nay, di tích nằm trong khu rừng Tà Thiết, có tổng diện tích khoảng 380 ha, được tổ chức thành ba cụm công trình chính. Cụm ngoài gồm nhà ở của Thượng tướng Trần Văn Trà và Hầm chữ A. Cụm giữa gồm Bếp Hoàng Cầm, Hầm Giao ban, nhà ở của Thiếu tướng Lê Văn Tưởng và nhà ở của Chính ủy Phạm Hùng. Cụm cuối gồm Hội trường, nhà Thiếu tướng Nguyễn Thị Định và nhà Đại tướng Lê Đức Anh.
Hội trường
Hội trường nằm ở cụm cuối của căn cứ, cách Bếp Hoàng Cầm khoảng 500m về phía Nam, cách nhà Thiếu tướng Nguyễn Thị Định khoảng 150m về phía Bắc và cách nhà Đại tướng Lê Đức Anh khoảng 100m về phía Đông Bắc.
Công trình dài 12,8m, rộng 6,8m, diện tích 87,4m². Nếu tính cả hệ thống giao thông hào, khu vực có diện tích khoảng 26,3m x 30m, tương đương 789m². Một phần công trình được đào âm xuống lòng đất khoảng 0,9m, trong khi phần mái và kết cấu phía trên nổi trên mặt đất. Cách xây dựng này vừa đáp ứng yêu cầu sử dụng, vừa phù hợp với đặc điểm của một căn cứ hoạt động trong điều kiện chiến tranh.
Bếp Hoàng Cầm
Bếp Hoàng Cầm là một sáng tạo đặc biệt của bộ đội trong chiến tranh, được anh nuôi Hoàng Cầm sáng chế năm 1953. Hệ thống bếp có ba loại gồm Đại Táo, Trung Táo và Tiểu Táo. Bếp được phục hồi tại căn cứ Tà Thiết là loại Đại Táo.
Công trình được xây dựng theo trục Bắc – Nam, dài 15,6m, rộng 7m, diện tích 109,2m². Nếu tính cả hệ thống giao thông hào, diện tích khu vực khoảng 30m x 33m, tương đương 990m². Bếp có kiến trúc nửa chìm, nửa nổi, trong đó một phần diện tích nằm trên mặt đất và phần còn lại được đào âm khoảng 1m.
Lối lên xuống được bố trí ở đầu hồi phía Bắc. Hệ thống cột và vì kèo được làm bằng bê tông cốt thép giả gỗ, các đòn tay và thanh rui làm bằng gỗ. Mái được thiết kế phù hợp với môi trường rừng và yêu cầu giữ bí mật của căn cứ.
Hầm Giao ban
Hầm Giao ban là công trình phục vụ những cuộc họp và trao đổi công việc có yêu cầu bảo đảm bí mật cao. Hầm nằm cách nhà Thượng tướng Trần Văn Trà khoảng 400m về phía Đông Nam, cách nhà Chính ủy Phạm Hùng khoảng 50m về phía Đông Bắc và cách Bếp Hoàng Cầm khoảng 100m về phía Tây Bắc.
Công trình được xây dựng âm hoàn toàn dưới lòng đất, dài 9,8m, rộng 3,7m, cao 2,1m, tổng diện tích khoảng 36,26m². Hầm chạy theo hướng Bắc – Nam, có cửa lên xuống ở hai đầu. Mỗi cửa cao 1,3m, rộng 0,9m, có mái che rộng 1,8m, dài 2,8m và cao 1,7m.
Các cột, vì kèo và xà được làm bằng bê tông cốt thép giả gỗ; đòn tay và thanh rui làm bằng gỗ. Phần mái được lợp bằng lá Trung quân, tạo sự hòa nhập với cảnh quan rừng xung quanh.
Hầm chữ A
Hầm chữ A gồm hầm chính và hệ thống giao thông hào, được phục hồi năm 1995 bằng bê tông cốt thép và xi măng. Miệng hầm rộng 1m, cao 1,2m và sâu khoảng 1,4m. Hầm chính dài 4,2m, rộng 2,3m, được gia cố bằng hệ thống xà và bê tông cốt thép, phía trên phủ đất tự nhiên.
Giao thông hào dài khoảng 20m, rộng 0,9m, gồm bốn đoạn gấp khúc. Từ phía Tây của Hầm chữ A, giao thông hào kéo dài về phía Đông và đi sâu vào khu rừng tự nhiên. Tổng diện tích khu vực hầm và giao thông hào khoảng 105,3m².
Nhà Thượng tướng Trần Văn Trà
Nhà ở của Thượng tướng Trần Văn Trà dài 9,5m, rộng 9m, diện tích khoảng 85m². Nếu tính cả hệ thống giao thông hào, khu vực có diện tích khoảng 39,7m x 8,7m, tương đương 345,39m².
Công trình được thiết kế theo kiểu năm nóc, bốn mái, với ba vì kèo chia thành hai gian chính. Các cột, vì kèo, xà ngang và xà dọc được làm bằng bê tông cốt thép giả gỗ, trong khi đòn tay và thanh rui được làm bằng gỗ.
Nhà đồng chí Chính ủy Phạm Hùng
Nhà ở của Chính ủy Phạm Hùng dài 10m, rộng 8m, diện tích khoảng 80m². Tính cả hệ thống giao thông hào, khu vực có diện tích khoảng 15,5m x 19,3m, tương đương 299,15m².
Nhà có kiểu hai mái, hai chái ở hai đầu, thuộc dạng nhà trệt kết hợp với hầm âm và Hầm chữ A. Tại đầu hồi phía Bắc có một hầm âm nối với Hầm chữ A nằm ở giữa nền nhà. Hầm âm rộng 1,5m, cao 2,4m và sâu 1,4m.
Hệ thống cột, vì kèo và xà được làm bằng bê tông cốt thép giả gỗ; đòn tay và thanh rui làm bằng gỗ, mái lợp lá Trung quân.
Nhà đồng chí Lê Văn Tưởng
Nhà ở của đồng chí Lê Văn Tưởng được khôi phục, trùng tu năm 2009. Công trình có đầu hồi theo hướng Bắc – Nam, lối lên xuống được bố trí ở đầu hồi phía Nam. Nhà gồm ba gian, dài 9m, rộng 6,5m, diện tích 58,5m². Tính cả giao thông hào, diện tích khu vực khoảng 19m x 26,6m, tương đương 505,4m².
Bên trong có một Hầm chữ A bố trí ở vách phía Tây, cách vách phía Nam khoảng 2,5m. Hầm cao 1,1m, rộng 0,9m, được nối với giao thông hào thoát hiểm dài khoảng 30m dẫn vào rừng.
Các cột, vì kèo và xà được làm bằng bê tông cốt thép giả gỗ, đòn tay và thanh rui bằng gỗ, mái lợp lá Trung quân.
Nhà Đại tướng Lê Đức Anh
Nhà Đại tướng Lê Đức Anh có kiến trúc nửa chìm, nửa nổi, trong đó không gian sinh hoạt và nghỉ ngơi được bố trí âm xuống lòng đất khoảng 1m. Lối lên xuống nằm ở đầu hồi phía Tây Nam.
Nhà có ba gian, dài 9,4m, rộng 7m, diện tích khoảng 65,8m². Tính cả hệ thống giao thông hào, diện tích khu vực khoảng 16,8m x 16,5m, tương đương 277,2m².
Các cột, vì kèo và xà được làm bằng bê tông cốt thép giả gỗ; đòn tay và thanh rui bằng gỗ, mái lợp lá Trung quân. Bên trong nhà có Hầm chữ A cao 1,1m, rộng 0,9m, nối với giao thông hào thoát hiểm dài khoảng 30m dẫn vào rừng.
Nhà Thiếu tướng Nguyễn Thị Định
Nhà Thiếu tướng Nguyễn Thị Định cũng được thiết kế theo kiểu nửa chìm, nửa nổi, với phần không gian sinh hoạt và nghỉ ngơi được đào âm xuống lòng đất khoảng 1m. Đầu hồi quay theo hướng Đông – Tây, lối lên xuống bố trí ở đầu hồi phía Tây.
Công trình dài 9,4m, rộng 7m, gồm ba gian, diện tích khoảng 65,8m². Tính cả hệ thống giao thông hào, diện tích khu vực khoảng 11,8m x 21,6m, tương đương 254,88m². Hai đầu hồi có hai mái, mỗi mái dài 4,2m và rộng 1,6m.
Trong nhà có Hầm chữ A bố trí giữa vách phía Bắc, cao 1,1m, rộng 0,9m, nối với giao thông hào thoát hiểm dài khoảng 30m dẫn vào rừng. Kết cấu cột, vì kèo và xà bằng bê tông cốt thép giả gỗ, đòn tay và thanh rui bằng gỗ, mái lợp lá Trung quân.
Nhà bia của Tổng cục Chính trị
Nhà bia được xây dựng theo kiểu phương đình, có mặt bằng hình vuông, mỗi cạnh dài 7,5m. Phần mái được cấu trúc theo dạng chồng diêm hai tầng, mỗi tầng gồm bốn mái cân nhau, lợp ngói mũi hài.
Ở trung tâm nhà đặt một tấm bia đá cao 2,1m, rộng 1,66m, ghi lại công lao của các chiến sĩ. Công trình sử dụng hình thức kiến trúc truyền thống, có độ bền vững và được bố trí hài hòa với không gian rừng của khu di tích.
Phòng trưng bày bổ sung di tích
Phòng trưng bày bổ sung di tích có diện tích khoảng 213,84m². Tại Nhà trưng bày do Bảo tàng tỉnh Bình Phước quản lý hiện lưu giữ và giới thiệu 84 hiện vật cùng một sa bàn liên quan đến quá trình hình thành và hoạt động của căn cứ.
Bên cạnh đó, Bảo tàng Bình Phước tiếp tục sưu tầm, bổ sung hiện vật, tư liệu và hình ảnh nhằm hoàn thiện nội dung trưng bày tại phòng truyền thống, qua đó giúp người tham quan có thêm tư liệu để tìm hiểu về tổ chức, đời sống và hoạt động của Bộ Tư lệnh Miền trong những năm cuối của cuộc kháng chiến.
Giá trị lịch sử của di tích
Căn cứ Bộ Chỉ huy Quân giải phóng miền Nam Việt Nam tại Tà Thiết không chỉ là một không gian quân sự được tổ chức giữa rừng mà còn là nơi ghi dấu hoạt động của cơ quan chỉ huy chiến lược trên chiến trường miền Nam trong giai đoạn có ý nghĩa quyết định đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Hệ thống nhà ở, hầm bí mật, giao thông hào, bếp Hoàng Cầm, hội trường và các công trình phục vụ chỉ huy, hậu cần cho thấy cách tổ chức một căn cứ quân sự trong điều kiện chiến tranh. Các công trình được bố trí phân tán trong rừng, tận dụng địa hình tự nhiên, kết hợp giữa không gian nổi và không gian âm, đồng thời sử dụng các tuyến giao thông hào và hầm trú ẩn để tăng khả năng bảo đảm an toàn.
Ngày nay, khu di tích là địa điểm tham quan, nghiên cứu và giáo dục truyền thống. Vào các dịp lễ lớn của đất nước, ngày tưởng niệm các cán bộ từng công tác tại Bộ Chỉ huy Miền, các cơ quan, đơn vị và địa phương thường tổ chức những hoạt động ôn lại truyền thống, dâng hương tưởng niệm các anh hùng, liệt sĩ và những người từng sống, chiến đấu tại căn cứ cũng như trên chiến trường miền Nam.
Với những giá trị đặc biệt về lịch sử, quân sự và cách mạng, Di tích lịch sử Căn cứ Bộ Chỉ huy Quân giải phóng miền Nam Việt Nam tại huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 2367/QĐ-TTg ngày 23/12/2015.










