Di tích lịch sử Căn cứ Trung ương Cục miền Nam nằm ở phía Bắc tỉnh Tây Ninh, sát biên giới Việt Nam – Campuchia, cách trung tâm Tây Ninh khoảng 60 km. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, khu vực Bắc Tây Ninh là địa bàn chiến lược quan trọng, từng là nơi đặt cơ quan đầu não lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng miền Nam trong nhiều năm.
Di tích còn được biết đến với các tên gọi R, mật danh của Trung ương Cục miền Nam, Căn cứ Chàng Riệc, theo tên khu rừng nơi đặt căn cứ, Căn cứ Phạm Hùng và Căn cứ địa Bắc Tây Ninh. Toàn bộ khu di tích hiện gồm ba phân khu lớn: Căn cứ Trung ương Cục miền Nam, Căn cứ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Căn cứ Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

Căn cứ Trung ương Cục miền Nam
Tháng 3/1951, Hội nghị Trung ương lần thứ nhất khóa II quyết định thành lập Trung ương Cục miền Nam. Ban đầu, đồng chí Lê Duẩn giữ chức Bí thư, đồng chí Lê Đức Thọ làm Phó Bí thư. Sau đó, đồng chí Lê Đức Thọ giữ chức Bí thư và đồng chí Phạm Hùng làm Phó Bí thư. Ngày 6/9/1954, Bộ Chính trị quyết định giải thể Trung ương Cục miền Nam, thành lập lại Xứ ủy Nam Bộ và các Khu ủy.
Ngày 23/1/1961, Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III quyết định thành lập lại Trung ương Cục miền Nam. Đầu năm 1965, Trung ương Cục được giao nhiệm vụ lãnh đạo, chỉ đạo Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ. Đồng chí Nguyễn Văn Linh, Bí thư Xứ ủy Nam Bộ, đảm nhận cương vị Bí thư Trung ương Cục. Giai đoạn 1967 – 1975, đồng chí Phạm Hùng làm Bí thư; các đồng chí Nguyễn Văn Linh, Phan Văn Đáng và Hoàng Văn Thái giữ chức Phó Bí thư.
Căn cứ được xây dựng giữa rừng Chàng Riệc và Rùm Đuôn, dựa vào địa hình rừng nguyên sinh với nhiều tầng cây che phủ để bảo đảm bí mật và an toàn. Nhà ở, phòng làm việc chủ yếu được dựng nổi trên mặt đất, sử dụng gỗ làm cột, kèo, đòn tay và lợp mái bằng lá trung quân. Bên cạnh các công trình là hệ thống hầm trú ẩn, giao thông hào, ụ chiến đấu và hầm hàm ếch phục vụ việc phòng tránh bom đạn và bảo vệ căn cứ.
Khu di tích gốc hiện được phục hồi một số công trình tiêu biểu như nhà thường trực, hội trường lớn, hội trường nhỏ, nhà bảo vệ, văn phòng, bếp Hoàng Cầm và nhà ở, làm việc của các đồng chí Nguyễn Văn Linh, Nguyễn Chí Thanh, Võ Văn Kiệt, Phạm Hùng cùng một số lãnh đạo khác. Hệ thống giao thông hào, ụ chiến đấu và hầm trú ẩn được bố trí trên toàn tuyến, giúp hình dung rõ hơn điều kiện hoạt động của cơ quan lãnh đạo cách mạng trong chiến tranh.
Khu tưởng niệm gồm nhà đón tiếp, khu trưng bày và khu tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ, với tổng diện tích xây dựng khoảng 750 m².
Căn cứ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam
Ngày 20/12/1960, tại Trảng Chiêng, xã Tân Lập, huyện Châu Thành, nay thuộc huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập và cử ra Ủy ban Trung ương lâm thời.
Mặt trận tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ nhất từ ngày 16/2 đến 3/3/1962 và Đại hội lần thứ hai từ ngày 11 đến 18/11/1964. Từ ngày 15 đến 20/8/1967, tại căn cứ địa Bắc Tây Ninh diễn ra Đại hội bất thường, sau này được xác định là Đại hội lần thứ ba và cũng là kỳ đại hội cuối cùng. Đại hội thông qua Cương lĩnh chính trị, tạo cơ sở cho việc thành lập Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.
Khu căn cứ nằm bên dòng Suối Chò, gồm khu di tích gốc, khu tưởng niệm và khu bảo tồn cảnh quan tự nhiên. Các công trình được phục hồi gồm nhà bảo vệ, nhà giao liên, nhà khách, nhà làm việc và nhà ở của các đồng chí Nguyễn Hữu Thọ, Phùng Văn Cung, Võ Chí Công, hội trường, bếp Hoàng Cầm, cùng một số đoạn giao thông hào và hầm trú ẩn.
Khu tưởng niệm có nhà bia, nhà đón tiếp và nhà trưng bày, trong khi khu bảo tồn giữ gìn cảnh quan tự nhiên gắn với không gian căn cứ.
Căn cứ Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam
Từ ngày 6 đến 8/6/1969, tại rừng Tà Nốt, huyện Châu Thành, nay thuộc huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được thành lập. Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát giữ chức Chủ tịch Chính phủ Cách mạng lâm thời, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ là Chủ tịch Hội đồng Cố vấn.
Khu căn cứ có diện tích khoảng 60 ha, được tổ chức thành ba khu vực gồm khu di tích gốc, khu tôn tạo và khu bảo tồn cảnh quan. Khu di tích gốc có nhà làm việc, nhà ăn, bếp Hoàng Cầm, hầm trú ẩn và giao thông hào. Khu tôn tạo gồm nhà đón tiếp, nhà trưng bày, phòng khách, nhà làm việc và nhà bia. Phần còn lại được bảo tồn gắn với hệ sinh thái và cảnh quan tự nhiên của khu rừng.
Giá trị của Căn cứ Trung ương Cục miền Nam
Trong giai đoạn 1961 – 1975, Trung ương Cục miền Nam là cơ quan lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng ở miền Nam, cụ thể hóa nhiều chủ trương, đường lối của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh thành các nghị quyết, chỉ thị và quyết sách phù hợp với thực tiễn chiến trường. Từ căn cứ này, nhiều chủ trương quan trọng được tổ chức triển khai trên phạm vi Nam Bộ và các địa bàn chiến lược của miền Nam.
Hệ thống căn cứ cũng phản ánh nghệ thuật xây dựng căn cứ địa trong điều kiện chiến tranh, từ lựa chọn địa hình, tổ chức nơi ở và làm việc, xây dựng giao thông hào, hầm trú ẩn đến việc bảo đảm liên lạc, hậu cần và an toàn cho cơ quan lãnh đạo. Những công trình còn lại giữa rừng Chàng Riệc, Rùm Đuôn, Suối Chò và Tà Nốt góp phần tái hiện đời sống, điều kiện hoạt động của cán bộ, chiến sĩ trong những năm tháng chiến tranh.
Căn cứ Trung ương Cục miền Nam vì thế không chỉ là nơi lưu giữ dấu tích hoạt động của nhiều cán bộ lãnh đạo cấp cao mà còn có giá trị trong nghiên cứu lịch sử, giáo dục truyền thống và tìm hiểu về cuộc kháng chiến ở Nam Bộ. Không gian rừng tự nhiên kết hợp với hệ thống di tích gốc, công trình tưởng niệm và trưng bày tạo nên một quần thể di tích lịch sử đặc biệt của Tây Ninh.
Ngày 10/5/2012, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 548/QĐ-TTg, xếp hạng Di tích lịch sử Căn cứ Trung ương Cục miền Nam là Di tích quốc gia đặc biệt.










