Chùa Bổ Đà

Khu di tích chùa Bổ Đà, còn gọi là di tích Ao Miếu và chùa Bổ Đà, chùa Bổ hoặc chùa Ông Bổ, tọa lạc trên núi Bổ Đà Sơn, thuộc phường Vân Hà, thành phố Bắc Ninh. Đây là quần thể di tích lịch sử, văn hóa, tôn giáo và kiến trúc nghệ thuật có giá trị đặc biệt, gắn với quá trình phát triển của Phật giáo ở vùng Kinh Bắc.

Theo truyền thuyết, chùa có nguồn gốc từ thời Lý, khoảng thế kỷ XI. Trong quá trình hình thành và phát triển, chùa Bổ Đà trở thành nơi thực hành và truyền bá Tam giáo đồng nguyên, kết hợp Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo, đồng thời phối thờ Thạch Linh Thần Tướng và các vị Tổ của Thiền phái Trúc Lâm.

Trong dân gian lưu truyền câu “Bắc Bổ Đà – Nam Hương Tích”, thể hiện vị thế của chùa Bổ Đà trong đời sống tín ngưỡng và Phật giáo miền Bắc. Nếu chùa Vĩnh Nghiêm là một trung tâm quan trọng của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử thì chùa Bổ Đà là một trong những trung tâm Phật giáo lớn của vùng Bắc Giang, có ảnh hưởng sâu sắc của Thiền phái Lâm Tế.

Các dấu tích kiến trúc và tư liệu còn lưu giữ cho thấy chùa được xây dựng, mở rộng và phát triển mạnh vào thời Lê Trung Hưng và thời Nguyễn. Đầu thế kỷ XVIII, dưới niên hiệu Bảo Thái (1720 – 1729), Thiền sư Phạm Kim Hưng đã tiến hành trùng tu, mở mang khu di tích và đưa chùa trở thành một trung tâm tu học của Thiền phái Lâm Tế.

Theo các nhà nghiên cứu, Thiền phái Lâm Tế được truyền vào Việt Nam từ cuối thế kỷ XVII, gắn với Thiền sư Chuyết Công, hay Chuyết Chuyết, người Trung Hoa. Tại chùa Bổ Đà, dòng thiền này kế thừa nền tảng Thiền tông đã tồn tại trước đó, đồng thời chịu ảnh hưởng từ các trung tâm Phật giáo như chùa Hà Trung ở Huế, chùa Phật Tích và chùa Bút Tháp ở Bắc Ninh.

Chùa Bổ Đà từng là nơi các vị Tổ sư khai trường, thuyết pháp, đào luyện tăng đồ và san khắc kinh Phật. Kho mộc bản hiện còn tại chùa với 1.935 bản khắc kinh là một trong những tư liệu quan trọng phản ánh hoạt động Phật giáo và lịch sử truyền thừa của Thiền phái Lâm Tế tại đây. Truyền thống an cư kiết hạ cũng được duy trì qua nhiều thế hệ, thu hút tăng ni trong vùng về tu học và tham thiền.

Một giá trị đặc biệt khác của chùa là hệ thống vườn tháp, nơi an trí tro cốt, xá lợi và di cốt của các vị tăng ni thuộc dòng Lâm Tế. Các tháp đều có bia ghi lại tên tuổi, ngày sinh, ngày viên tịch và những thông tin liên quan đến người được an trí, tạo thành nguồn tư liệu có giá trị phục vụ nghiên cứu lịch sử Phật giáo.

Quần thể kiến trúc chùa Bổ Đà

Khu di tích chùa Bổ Đà nằm trong không gian sơn thủy hữu tình của núi Bổ Đà Sơn, có tổng diện tích khoảng 275.009,6 m². Khu vực bảo vệ I rộng khoảng 53.808,5 m² và khu vực bảo vệ II khoảng 221.201,1 m². Toàn bộ quần thể được chia thành 5 đơn nguyên kiến trúc chính gồm chùa Tứ Ân, am Tam Đức, chùa Cao, vườn Tháp và Ao Miếu.

Điểm đặc biệt của chùa Bổ Đà là lối kiến trúc “nội thông ngoại bế”. Các công trình được liên kết với nhau trong một không gian khép kín, bên ngoài được bao bọc bởi hệ thống tường trình đất và những rặng tre xanh. Hệ thống tường đất vừa tạo không gian biệt lập, u tịch vừa góp phần bảo vệ quần thể kiến trúc.

Nghệ thuật chạm khắc tại chùa khá phong phú, với các đề tài vân mây, vân xoắn, hoa cúc, lá lật, linh thú, tứ linh, tứ quý… Các cấu kiện kiến trúc thể hiện sự đan xen giữa phong cách nghệ thuật thời Lê Trung Hưng và thời Nguyễn.

Chùa Tứ Ân

Chùa Tứ Ân, còn gọi là chùa Bổ hoặc chùa Bổ Đà, là khu kiến trúc trung tâm của quần thể. Chùa gồm 16 công trình với 92 gian liên hoàn, được bố trí thành các tòa ngang, dãy dọc, gồm Tam bảo, hai dãy hành lang, Tiền tế, nhà Tổ, gác kinh, giảng đường, nhà Trụ trì, nhà Hành pháp, nhà Tạo soạn, nhà khách, nhà Ni, nhà Ga và các công trình phụ trợ.

Phần lớn các lớp cổng được xây dựng vào thời Nguyễn, có dạng nghi môn cuốn mái vòm. Đường từ cổng thứ nhất đến cổng thứ hai được lát bằng những khối đá có kích thước khác nhau. Bao quanh chùa là hệ thống trình tường đất dài gần 400 m, cao phổ biến từ 2 – 3 m, có đoạn cao khoảng 5 m; chân tường dày khoảng 0,8 m và phần đỉnh dày khoảng 0,4 m.

Tường được đắp bằng loại đất sỏi son lấy từ núi Bổ Đà, phía trên phủ các mảnh gốm, chum vại của làng Thổ Hà. Qua thời gian, tường phủ rêu phong, tạo nên diện mạo cổ kính đặc trưng. Chùa có 8 cổng ra vào, liên kết các khu vực kiến trúc trong toàn bộ quần thể.

Tòa Tam bảo có kiến trúc chữ Đinh, gồm Tiền đường 7 gian nối với Thượng điện 5 gian xây bít đốc. Tòa Tiền đường có 4 hàng chân cột, mỗi hàng 8 cột gỗ lim, hệ thống vì nóc sử dụng nhiều kiểu thức như con chồng đấu kê, chồng rường đấu kê và hạ kẻ suốt. Các vì nách, đầu bẩy hiên, ván dó và kẻ ở hai hồi được chạm khắc tinh xảo với đề tài vân mây, đao mác, hoa cúc cách điệu và lá lật.

Hệ thống tượng thờ và đồ thờ trong Tam bảo khá phong phú, tiêu biểu có tượng Tam Thế Phật, A Di Đà, tòa Cửu Long, Khổng Tử, Lão Tử, Thạch Linh Thần Tướng và tượng Tam Châu. Cách bài trí “tiền Thánh, hậu Phật” cho thấy sự kết hợp giữa Tam giáo và tín ngưỡng dân gian bản địa.

Tòa Thượng điện gồm 5 gian, xây bít đốc, khung vì nóc theo kiểu vì giá chiêng, con chồng, đấu kê và vì kèo cánh báng. Các vì nách được bào trơn, soi gờ kẻ chỉ. Phía trên có các bức đại tự, khung tranh gỗ và đề tài tứ quý Tùng, Trúc, Cúc, Mai. Nhiều cửa võng, đại tự, hoành phi, câu đối và tranh gỗ mang niên hiệu Thành Thái thời Nguyễn. Đây là một trong những khu vực thể hiện rõ giá trị kiến trúc nghệ thuật của chùa Bổ Đà.

Hai dãy hành lang chạy song song với tòa Thượng điện, mỗi dãy 6 gian, xây bít đốc, mái lợp ngói mũi. Các vì mái làm bằng gỗ lim, liên kết theo kiểu vì giá chiêng, kẻ truyền và được chạm khắc các đề tài hoa lá.

Nhà Tổ gồm tòa Tiền tế và Hậu đường. Tòa Tiền tế có 5 gian, bố cục chữ Nhất, hệ thống vì mái theo kiểu giá chiêng, con chồng, đấu kê, trốn trụ và kẻ chuyền. Tòa Hậu đường cũng gồm 5 gian, các cấu kiện như đầu bẩy, con chồng, đấu kê được chạm nổi hình hoa lá, vân mây và đao mác. Một số cấu kiện ở gian giữa tạo hình trái đào tiên và chữ Thọ, thể hiện phong cách nghệ thuật thời Lê Trung Hưng và thời Nguyễn.

Giảng đường nằm phía trước tòa Tiền tế, gồm 3 gian, kiến trúc thời Nguyễn. Bên trong hiện còn nhang án, chuông đồng đúc năm Khải Định thứ 2 (1917) và mõ cá bằng gỗ có niên đại khoảng thế kỷ XIX.

Nhà Trụ trì gồm 3 gian, các cấu kiện kiến trúc chạm khắc hoa lá. Đáng chú ý, phần tường mái phía sau được xây bằng tiểu sành, vật liệu gắn với nghề gốm truyền thống Thổ Hà.

Gác kinh gồm hai gác xây liền với nhà Tiền tế, theo kiểu chồng diêm hai tầng mái. Hệ thống vì mái mang đặc trưng kiến trúc thời Nguyễn.

Nhà Hành pháp nằm phía sau Giảng đường, gồm 5 gian, khung vì mái theo kiểu kẻ truyền giá chiêng.

Nhà khách 1 có kiến trúc chữ Nhất, gồm 5 gian. Công trình không bố trí cửa kín mà sử dụng các cánh dại theo kiểu thượng song hạ bản.

Nhà khách 2 nằm đối diện Nhà khách 1, gồm 7 gian, hệ thống cửa cuốn mái vòm và các vì nóc theo kiểu kẻ truyền, trốn trụ, giá chiêng.

Nhà Ni gồm 7 gian, nối với Nhà khách 2. Trong nhà còn lưu nhang án, mõ cá thế kỷ XIX và bia đá có niên hiệu Tự Đức thứ 6 (1853). Gian giữa đặt tượng Tổ Ni, phía trên treo hoành phi “Thiết ni sư”.

Nhà Tạo soạn, trước đây còn gọi là nhà Gạo, có kiến trúc chữ Nhất gồm 7 gian, được tu sửa năm 2013. Công trình sử dụng các cánh dại để che nắng và lấy ánh sáng, hệ thống vì mái gồm nhiều cấu kiện gỗ.

Nhà Ga, hay nhà tang lễ, là nơi tổ chức tang lễ cho các vị sư trụ trì. Công trình có 6 gian, kiến trúc chữ Nhất, hệ thống vì mái kết hợp kẻ truyền, con chồng đấu kê và trốn trụ, với các cấu kiện chạm khắc hoa lá.

Am Tam Đức

Am Tam Đức nằm trên lưng chừng núi Phượng Hoàng, phía sau chùa Tứ Ân. Công trình có kiến trúc chữ Nhất gồm 5 gian, trong đó 3 gian giữa xây kiểu chồng diêm hai tầng mái, hai gian bên xây bình đầu bít đốc.

Hệ thống cửa sử dụng kiểu thượng song hạ bản và bức bàn. Các vì nóc được liên kết theo kiểu chồng rường, giá chiêng, con chồng và đấu kê. Điểm nổi bật của am là phần mái chồng diêm tạo dáng thanh thoát cho công trình. Bên trong có nhang án đặt tượng Sư tổ Phạm Kim Hưng.

Chùa Cao

Chùa Cao nằm phía sau am Tam Đức, có kiến trúc chữ Nhất theo chiều dọc và hệ thống cuốn mái vòm. Phần tường mái phía trước tạo hình tay ngai, mang đặc trưng kiến trúc thời Nguyễn.

Không gian bên ngoài là nơi hành lễ, hai bên áp sát tường có các ban thờ với dòng chữ “Sơn trấn tĩnh” và “Nhạc giáng Thần”. Gian trong cùng đặt tượng Quán Thế Âm Bồ Tát.

Chùa Cao được xem là công trình kiến trúc cổ nhất trong quần thể chùa Bổ Đà, đồng thời là một trong những địa điểm gắn với quá trình hình thành và phát triển ban đầu của khu di tích.

Vườn Tháp

Vườn Tháp là một trong những giá trị nổi bật nhất của chùa Bổ Đà. Hiện còn khoảng 110 ngôi tháp, mộ lớn nhỏ trên diện tích gần 8.000 m², trong đó có nhiều tháp có niên đại từ thời Lê.

Hệ thống tháp được chia thành các khu vực, phía trên là tháp của các vị sư tăng, phía dưới là khu tháp sư ni và khu vực dành cho những người chấp tác tại chùa. Theo tư liệu của di tích, 97 tháp và mộ có chứa xá lợi, tro hoặc di cốt của khoảng 1.214 nhà sư thuộc Thiền phái Lâm Tế.

Vườn Tháp tạo thành một không gian đặc biệt trong quần thể chùa Bổ Đà, đồng thời là nguồn tư liệu quan trọng để nghiên cứu lịch sử truyền thừa của Thiền phái Lâm Tế tại Việt Nam.

Ao Miếu

Ao Miếu, còn gọi là Đền Hạ, là nơi thờ Thạch Linh Thần Tướng. Công trình có kiến trúc chữ Nhất, gồm một gian hai chái, mái chồng diêm hai tầng với tám mái đao cong. Hệ thống vì nóc và vì nách sử dụng nhiều kiểu thức truyền thống, các cấu kiện chịu lực làm bằng gỗ tứ thiết.

Phía sau đền là ao Thạch Long và một ngôi miếu nhỏ. Theo truyền thuyết dân gian, đây là nơi lưu dấu tích của Mẹ Đá, người sinh ra Thạch Linh Thần Tướng. Miếu có kiến trúc chữ Đinh gồm Tiền tế và Hậu cung. Bên phải là khu nhà Mẫu, nơi thờ cha mẹ của Thạch Tướng Quân.

Di vật, cổ vật và giá trị văn hóa

Chùa Bổ Đà hiện còn lưu giữ hệ thống di vật, cổ vật phong phú, phản ánh nhiều giai đoạn phát triển của di tích. Nổi bật nhất là kho mộc bản gồm 1.935 bản khắc kinh Phật, cùng hơn 40 pho tượng gỗ có niên đại từ thời Lê Trung Hưng đến thời Nguyễn.

Kho mộc bản, hệ thống tượng thờ, bia đá, đồ thờ tự và đặc biệt là vườn tháp tạo thành nguồn tư liệu quan trọng để nghiên cứu lịch sử chùa Bổ Đà, sự truyền thừa của Thiền phái Lâm Tế cũng như đời sống tôn giáo, văn hóa của vùng Kinh Bắc.

Bên cạnh giá trị Phật giáo, chùa Bổ Đà còn thể hiện sự giao thoa giữa Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo và tín ngưỡng dân gian. Hệ thống kiến trúc khép kín, tường trình đất, nghệ thuật chạm khắc gỗ và không gian vườn tháp tạo nên diện mạo riêng của quần thể.

Lễ hội chùa Bổ Đà

Từ lâu, chùa Bổ Đà là trung tâm sinh hoạt văn hóa, tôn giáo và tín ngưỡng của cộng đồng cư dân trong vùng và khách thập phương.

Lễ hội chùa Bổ Đà được tổ chức hằng năm từ ngày 15 đến ngày 18 tháng Hai âm lịch, với nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ dân gian và nghi lễ truyền thống. Từ năm 2001, lễ hội còn gắn với Hội thi hát Quan họ của huyện Việt Yên, góp phần làm nổi bật mối liên hệ giữa không gian Phật giáo Bổ Đà với văn hóa Quan họ và truyền thống văn hóa Kinh Bắc.

Với những giá trị nổi bật về lịch sử, văn hóa, tôn giáo, kiến trúc, nghệ thuật và khảo cổ học, Khu di tích chùa Bổ Đà là một trong những di tích quan trọng của vùng Bắc Giang. Di tích được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 2499/QĐ-TTg ngày 22/12/2016.

5/5 - (1 bình chọn)

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Fill out this field
Fill out this field
Vui lòng nhập địa chỉ email hợp lệ.
You need to agree with the terms to proceed

Liên hệ truyền thông 0938948549

1 result
Bạn sẽ quan tâm?:
Có thể bạn cũng quan tâm: