Chùa Dâu, còn có các tên gọi Cổ Châu tự, Diên Ứng tự, Pháp Vân tự, Thiền Định tự và chùa Bà Dâu, thuộc thôn Khương Tự, phường Trí Quả, tỉnh Bắc Ninh. Với những giá trị nổi bật về lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật và văn hóa Phật giáo, chùa Dâu đã được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 2383/QĐ-TTg ngày 09/12/2013.
Theo các thư tịch cổ, chùa được khởi dựng tại vùng Dâu, tức khu vực Luy Lâu xưa, vào thế kỷ II đầu Công nguyên, trong thời kỳ Sĩ Nhiếp làm Thái thú quận Giao Châu. Chùa Dâu thường được xem là một trong những trung tâm Phật giáo hình thành sớm nhất ở Việt Nam, đồng thời là dấu tích quan trọng phản ánh quá trình Phật giáo du nhập, giao lưu và phát triển trên đất Việt.

Kiến trúc chùa Dâu
Chùa tọa lạc trên một khu đất cao, rộng và bằng phẳng, có cảnh quan tương đối thoáng đãng, quay về hướng Tây. Tổng thể kiến trúc được tổ chức theo kiểu “nội Công ngoại Quốc”, gồm tam quan, tiền thất hay bái vọng đường, tháp Hòa Phong, tiền đường, thiêu hương, thượng điện, hậu đường, hai dãy hành lang cùng các công trình phụ trợ như nhà Tổ, nhà Mẫu, nhà khách, vườn tháp, ao chùa và hệ thống tường bao.
Tam quan gồm 3 gian, bộ khung gỗ đặt trên 4 hàng chân cột. Các vì nóc được kết cấu theo kiểu “con chồng, giá chiêng, cốn, bẩy”. Các cấu kiện chủ yếu được bào trơn, đóng bén, mái lợp ngói. Hai hồi xây bít đốc nhưng cả ba gian đều được mở tương đối thông thoáng. Đây là một trong những bộ phận tạo nên lớp không gian chuyển tiếp từ bên ngoài vào khu vực nội tự.
Tiền thất, hay bái vọng đường, gồm 7 gian, 2 chái, mái lợp ngói với các đầu đao cong. Bộ khung bằng gỗ, các vì nóc được kết cấu theo dạng “tiền kẻ, hậu kẻ, câu đầu, trụ nóc”, tì lực trên 4 đầu cột. Phần lớn cấu kiện được bào trơn, đóng bén, riêng các đầu kẻ ở gian giữa được chạm hoa lá cách điệu. Bên trong bố trí một số bộ bàn ghế để khách thập phương chuẩn bị lễ trước khi vào lễ Phật.
Hai dãy hành lang chạy song song, nối từ tiền thất đến hậu đường và gần như bao quanh các công trình chính. Mỗi dãy gồm 22 gian, được chia thành hành lang phía trước 12 gian và hành lang phía sau 10 gian, ngăn cách bằng một bộ cửa ván bưng. Phần hành lang phía sau là nơi thờ 18 vị La Hán.
Nằm giữa sân chùa là tháp Hòa Phong, một trong những biểu tượng kiến trúc nổi bật của chùa Dâu. Theo thư tịch cổ, vào thời Trần, Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi từng cho trùng tu chùa và xây một tòa tháp cao 9 tầng. Tuy nhiên, kiến trúc tháp còn lại ngày nay chủ yếu mang dấu ấn của thời Lê Trung Hưng.
Tháp được xây bằng gạch nung già, hiện còn 3 tầng, cao khoảng 15m. Tầng thứ nhất cao 4,5m, mỗi cạnh rộng 6,75m, bốn mặt đều mở cửa cuốn vòm. Tầng thứ hai cao 4m, mỗi cạnh rộng 6,15m, cũng có 4 cửa cuốn vòm. Phần trên cùng là vòm mái xây cuốn bằng gạch, tạo dáng khum giống long đình. Đỉnh tháp được tạo hình như một bình nước cam lộ.
Bên trong tháp, phía dưới có bệ thờ Tứ Trấn, tức Tứ Thiên Vương, bằng gỗ phủ sơn, cao 1,60m. Phía trên treo khánh đồng và chuông đồng. Trước bậc tam cấp ở cửa phía Tây có hai tượng sóc đá mang phong cách nghệ thuật thời Lê Trung Hưng. Bên trái tháp còn có một tượng cừu đá, được xem là dấu tích phản ánh ảnh hưởng văn hóa phương Bắc và gắn với thời kỳ Sĩ Nhiếp đặt trị sở tại thành Luy Lâu. Trên phía Tây tầng hai của tháp hiện còn một tấm biển bằng đá xanh khắc ba chữ “Hòa Phong tháp”.
Tiền đường được dựng trên nền thấp hơn thượng điện khoảng 0,60m, rộng 9,50m, dài 21m, cao khoảng 0,37m, gồm 7 gian, 2 chái. Hai hồi xây bít theo kiểu cột trụ cánh phong. Công trình có 8 bộ vì kèo theo kiểu “câu đầu, trụ nóc, cốn, tiền kẻ, hậu bẩy”, hệ khung đỡ mái tì lực trên 32 đầu cột.
Các đầu kẻ, bẩy và cốn đều được chạm nổi những đề tài như mây lá, tứ linh, tứ quý và triện dây. Phía trước nền nhà có tam cấp chạy suốt 5 gian giữa. Đặc biệt, tại gian chính giữa còn hai thành bậc đá chạm rồng, dài 2,15m, cao 0,65m, mang phong cách nghệ thuật thời Trần. Trong tiền đường hiện có các ban thờ Hộ Pháp, Đức Ông, Đức Thánh Hiền và Bát Bộ Kim Cương.
Nối tiền đường với thượng điện là tòa thiêu hương, còn gọi là ống muống, dài 9,40m, rộng 5,55m, gồm 3 gian. Mặt nền thấp hơn thượng điện. Hệ thống đỡ hoành mái gồm 4 bộ vì, mỗi vì được đặt trên 4 đầu cột. Tại đây có các ban thờ Thập điện Diêm Vương, Mạc Đĩnh Chi và Thái tử Kỳ Đà.
Thượng điện được dựng trên nền cao khoảng 1,27m, có mặt bằng hình chữ nhật, dài 13,90m, rộng 10,65m, gồm 1 gian, 2 chái, với 4 bộ vì và 4 mái đao cong.
Đáng chú ý, thượng điện còn bảo lưu hai bộ vì nóc kiểu giá chiêng. Khoảng giữa các bộ vì được gắn hình lá đề chạm nổi đôi rồng chầu mặt trời, hai trụ trốn bên cạnh chạm nổi hình phỗng. Về niên đại và phong cách nghệ thuật của những cấu kiện này, giới nghiên cứu còn có những cách nhìn khác nhau. Một số ý kiến cho rằng đây là những bộ phận mang phong cách nghệ thuật thời Trần, trong khi một số ý kiến khác cho rằng chúng có đặc điểm của nghệ thuật thời Mạc, tương tự một số chi tiết tại chùa Thái Lạc và chùa Bối Khê.
Thượng điện là nơi đặt các ban thờ Đại Thánh Pháp Vân Phật, thường gọi là Pháp Vân, cùng tượng Bà Trắng, Bà Đỏ, Thạch Quang Phật, Quan Âm Thiên thủ Thiên nhãn và các tượng thờ khác.
Hậu đường gồm 9 gian, 2 dĩ, bộ khung bằng gỗ, vì nóc kết cấu theo kiểu “trụ, quá giang, kẻ”. Đây là nơi thờ Đức Ông, Quan Âm, Thánh Hiền, Địa Tạng Vương và Hậu Phật. Ở trung tâm điện Phật có các tượng Tam Thế và Quan Âm Chuẩn Đề.
Bên trái hậu đường là nhà Tổ, gồm 5 gian, tường hồi bít đốc, bộ khung gỗ, vì kèo theo kiểu “con chồng, giá chiêng, kẻ truyền”. Công trình là nơi thờ Tổ và thờ Mẫu.
Nhà khách gồm 7 gian, tường xây bít đốc, bộ khung bằng gỗ lim, vì nóc kết cấu theo kiểu “con chồng, giá chiêng, quá giang, bẩy”.
Trong khuôn viên chùa hiện còn vườn tháp với 8 tháp gạch của các vị sư từng tu hành tại chùa. Các tháp có niên đại trải dài từ thời Lê đến thời Nguyễn, góp phần phản ánh lịch sử lâu dài của chùa Dâu và truyền thống tu hành tại đây.
Giá trị lịch sử và văn hóa
Chùa Dâu mang dấu ấn kiến trúc, điêu khắc của nhiều giai đoạn lịch sử. Hệ thống tượng pháp trong chùa thể hiện những giá trị nghệ thuật đặc sắc từ thời Lê đến thời Nguyễn, nổi bật là hệ thống tượng Tứ Pháp.
Tứ Pháp gồm Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi và Pháp Điện, gắn với các hiện tượng tự nhiên như mây, mưa, sấm và chớp. Tín ngưỡng Tứ Pháp cho thấy quá trình Phật giáo khi du nhập vào Việt Nam đã có sự giao hòa với tín ngưỡng bản địa của cư dân nông nghiệp.
Chùa Dâu vì thế không chỉ là một công trình Phật giáo cổ mà còn là một dấu tích quan trọng trong quá trình hình thành đời sống tín ngưỡng và văn hóa của người Việt. Nơi đây phản ánh sự tiếp biến giữa Phật giáo từ bên ngoài với các tín ngưỡng dân gian bản địa, từ đó hình thành một không gian tôn giáo mang đậm bản sắc Việt Nam.
Với lịch sử hình thành từ rất sớm, hệ thống kiến trúc qua nhiều thời kỳ cùng kho tàng tượng pháp và các giá trị nghệ thuật phong phú, chùa Dâu là một di tích có vị trí đặc biệt trong lịch sử Phật giáo Việt Nam và văn hóa vùng Kinh Bắc. Di tích được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 2383/QĐ-TTg ngày 09/12/2013, trở thành một địa điểm quan trọng trong hành trình tìm hiểu lịch sử, kiến trúc và tín ngưỡng truyền thống của Bắc Ninh.










