Vương triều Mạc do Thái tổ Mạc Đăng Dung sáng lập, tồn tại từ năm 1527 đến năm 1592, trải qua 65 năm với 5 đời vua. Dù thời gian tồn tại không dài so với nhiều triều đại phong kiến trong lịch sử Việt Nam, nhà Mạc vẫn để lại những dấu ấn đáng kể trên nhiều lĩnh vực, từ tổ chức hành chính, kinh tế, giáo dục đến việc trọng dụng nhân tài và chăm lo đời sống nhân dân.
Dưới triều Mạc, nhiều nhân vật có tài năng đã xuất hiện, trong đó tiêu biểu là Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Thị Duệ, người được biết đến là nữ tiến sĩ đầu tiên trong lịch sử khoa cử Việt Nam.
Dương Kinh, vùng đất gắn với quê hương Mạc Đăng Dung và quá trình hình thành vương triều Mạc, nay thuộc huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng. Đây từng là một trung tâm quan trọng của nhà Mạc, có vị trí chiến lược về chính trị, quân sự và kinh tế. Qua nhiều thế kỷ, những dấu tích còn lại tại Dương Kinh trở thành nguồn tư liệu quan trọng để tìm hiểu về một giai đoạn đặc biệt trong lịch sử dân tộc.
Cụm di tích liên quan đến nhà Mạc ở Dương Kinh gồm 5 di tích: Từ đường họ Mạc, Khu tưởng niệm các vua nhà Mạc, chùa Trà Phương, chùa Nhân Trai và đền – chùa Hòa Liễu. Hệ thống di tích này phản ánh quá trình hình thành, phát triển và suy vong của vương triều Mạc, đồng thời thể hiện những giá trị đặc sắc về lịch sử, văn hóa, tín ngưỡng và kiến trúc nghệ thuật.
Trong số các di tích thành phần, đền – chùa Hòa Liễu được xếp hạng di tích quốc gia năm 1993; Từ đường họ Mạc được xếp hạng di tích quốc gia năm 2002; chùa Nhân Trai là di tích cấp thành phố năm 2003; chùa Trà Phương được xếp hạng di tích quốc gia năm 2007; Khu tưởng niệm các vua nhà Mạc được xếp hạng di tích cấp thành phố năm 2016.

Từ đường họ Mạc
Từ đường họ Mạc là nơi phụng thờ tiên tổ họ Mạc, được khởi dựng năm 1905. Công trình ban đầu mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn, có diện tích khoảng 30m², gồm một ngôi nhà ba gian bằng gỗ lim. Tường xây bằng gạch chỉ, hai đầu hồi xây kiểu bít đốc, nền lát đá đỏ, mái lợp ngói vẩy và hệ thống cửa được làm theo kiểu cửa bức bàn.
Hiện nay, Từ đường họ Mạc quay hướng Bắc ghé Tây, nằm trong khuôn viên rộng khoảng 14.000m². Tổng thể di tích gồm nhiều đơn nguyên kiến trúc như Nghi môn, hệ thống tường bao, hồ bán nguyệt, nhà khách, giải vũ, nhà Mẫu, Từ đường cùng các công trình phụ trợ.
Nghi môn được thiết kế với ba cửa, mái lợp ngói mũi hài. Trên bờ nóc các mái đắp trang trí kìm nóc, hổ phù đội quả lôi. Hệ thống tường bao kết nối với Nghi môn được đắp, vẽ 65 bức tranh tái hiện những nội dung liên quan đến lịch sử, tượng trưng cho 65 năm trị vì của vương triều Mạc.
Trên trục thần đạo, qua hồ bán nguyệt là Từ đường. Công trình có bố cục mặt bằng kiểu chữ Công, gồm 5 gian Bái đường, một tòa Thiêu hương và 3 gian Hậu cung.
Bái đường có mặt bằng hình chữ nhật, xây kiểu tường hồi bít đốc, tay ngai trụ biểu, mái lợp ngói mũi hài. Bờ nóc được trang trí hình lưỡng long chầu nhật và kìm nóc.
Hệ khung chịu lực của Bái đường được dựng trên 6 bộ vì, theo kiểu vì 5 hàng chân cột. Các hàng cột cái và cột quân được làm bằng gỗ lim, trong khi hàng cột hiên được tạo bằng đá xanh. Trên thân cột đá chạm khắc hình rồng, mây. Các cột được kê trên những chân tảng đá xanh lớn, tạo giật 3 cấp, trên tròn dưới vuông, cấp giữa trang trí cánh sen.
Vì nóc Bái đường được làm theo kiểu “chồng rường giá chiêng”, vì nách theo kiểu “chồng rường trụ trốn”. Hệ cửa bằng gỗ lim, làm theo kiểu thượng song hạ bản, trên cửa chạm khắc các đề tài tứ linh, tứ quý, hoa dây và nhiều mô típ trang trí truyền thống.
Thiêu hương nằm ở vị trí trung tâm của tổng thể kiến trúc. Mặt nền cao hơn nền Bái đường khoảng 0,2m, đặt một sập đá lớn. Trên sập có long ngai và bài vị bằng đá khắc dòng chữ Hán “Thập nhị Đế vương”.
Tòa Thiêu hương được kết cấu theo kiểu phương đình, với bộ khung chịu lực gồm 4 cột gỗ lim đứng trên 4 chân tảng đá xanh. Hệ thống xà ngang và kẻ góc liên kết các cột, thu về nóc tạo thành hai tầng mái kiểu chồng diêm. Mái lợp ngói mũi hài, bờ nóc và các góc đao được trang trí kìm nóc, rồng và mây cách điệu.
Hậu cung có mặt bằng hình chữ nhật, xây kiểu tường hồi bít đốc, tay ngai trụ biểu. Một số mảng tường xây bằng đá núi vẫn được bảo tồn từ thời điểm khởi dựng. Nền Hậu cung cao hơn nền Thiêu hương khoảng 0,3m, phía trước có 3 bậc tam cấp.
Bộ khung chịu lực của Hậu cung gồm 4 bộ vì, làm theo kiểu 4 hàng chân cột với 2 hàng cột cái và 2 hàng cột quân. Vì nóc được làm theo kiểu “chồng rường biến thể giá chiêng”, vì nách kiểu “chồng rường”. Hệ cửa gỗ làm theo kiểu bức bàn, trang trí tứ linh, tứ quý trên bộ ngưỡng lim và chạm viền hồi văn đứt đoạn. Các bảy hiên được chạm khắc mây cụm, lá hóa long cách điệu.
Khu tưởng niệm các vua nhà Mạc
Khu tưởng niệm các vua nhà Mạc là một trong những điểm nhấn quan trọng của cụm di tích, được xây dựng nhằm tưởng niệm các vị vua nhà Mạc và giới thiệu những giá trị lịch sử gắn với vương triều.
Mở đầu khu tưởng niệm là Nghi môn ngoại có kết cấu kiểu tứ đồng trụ. Hai trụ chính cao 5,72m, hai trụ bên thấp hơn, cao 4,84m. Đầu các trụ được trang trí theo dạng đèn lồng. Trên hai trụ ngoài đắp hình lân, hai trụ giữa đắp hình phượng.
Thân trụ được tạo bằng các khối đá, bốn mặt chạm nổi hoa văn tứ quý mang phong cách nghệ thuật thời Mạc thế kỷ XVI.
Nghi môn nội có diện tích khoảng 122m², gồm Nghi môn, tả môn và hữu môn. Phần Nghi môn có kết cấu 3 gian, 4 hàng chân cột bằng gỗ lim, theo kiểu chồng diêm hai tầng tám mái, lợp ngói mũi. Bộ vì được làm theo kiểu thuận chồng, các cấu kiện gỗ được chạm khắc hoa lá.
Tả môn và hữu môn xây bằng gạch, mái kiểu chồng diêm, trên nóc trang trí hoa sen và các con giống trên bờ mái. Hệ cửa làm theo kiểu thượng song hạ bản.
Đền thờ chính có bố cục mặt bằng kiểu chữ Công, gồm Chính điện, Ống muống và Hậu cung.
Chính điện gồm 7 gian 2 chái, 6 hàng chân cột. Mái được làm theo kiểu chéo đao tàu góc. Đầu mái đắp đao cong, rồng chầu phượng đón. Chính giữa bờ nóc trang trí hình “lưỡng long chầu nhật”. Hai bên bờ nóc có đôi kìm ngậm bờ nóc với phần đuôi cong hình dấu hỏi. Tại khúc nguỷnh của bờ mái đắp đôi lân trong tư thế nhìn xuống sân.
Mái Chính điện được lợp hai lớp. Lớp trên là ngói mũi hài, lớp dưới là ngói màn. Mặt dưới ngói màn có in hình chữ “thọ” cách điệu.
Ống muống nối Bái đường với Hậu cung, gồm 2 gian, 2 mái và 4 hàng chân cột. Vì nóc có kết cấu tương tự Bái đường nhưng kích thước nhỏ hơn.
Hậu cung là công trình nhà bốn mái đao cong, gồm 5 gian 2 chái, 4 hàng chân cột, mái lợp ngói mũi hài. Vì nóc có kết cấu kiểu chồng rường giá chiêng, tương tự Bái đường. Nhiều cấu kiện kiến trúc được chạm khắc hoa văn trang trí như hoa lá thiêng và tứ linh.
Chùa Trà Phương
Chùa Trà Phương có tên chữ là Thiên Phúc Tự. Tổng thể di tích hiện nay gồm cổng Nhất môn, Tam bảo, nhà Tổ, nhà bia, vườn tháp, nhà khách và các công trình phụ trợ.
Cổng Nhất môn mở về hướng Tây Bắc, có lối đi kiểu vòm cuốn. Phía trên là hệ mái chồng diêm hai tầng tám mái. Phần cổ diêm ghi tên chữ của chùa bằng chữ Hán “Thiên Phúc Tự”.
Từ Nhất môn đi theo lối nhỏ rộng khoảng 3m sẽ đến tòa Tam bảo. Tam bảo có bố cục mặt bằng kiểu chữ Đinh, gồm 5 gian Tiền đường và 3 gian Thượng điện, được dựng trên nền cao hơn sân khoảng 0,3m.
Tiền đường xây kiểu tường hồi bít đốc, mái lợp ngói mũi hài. Hệ mái được trang trí đơn giản, phần hồi nóc xây cách điệu hình cánh cung mở góc, tạo dáng mềm mại cho công trình.
Khung chịu lực của Tiền đường chủ yếu bằng gỗ lim, gồm 4 bộ vì, theo kiểu vì 5 hàng chân cột với 2 hàng cột cái, 2 hàng cột quân và một hàng cột hiên. Các cột cái và cột quân được kê trên chân tảng đá xanh đục giật 4 cấp. Cấp dưới cùng hình vuông, cấp tiếp theo hình bát giác, hai cấp trên cùng tạo hình tròn và để trơn.
Vì nóc Tiền đường làm theo kiểu “chồng rường giá chiêng”, vì nách kiểu “chồng rường”, cửa làm theo kiểu bức bàn.
Thượng điện xây tường hồi bít đốc và nối với Tiền đường tạo thành mặt bằng chữ Đinh. Nền Thượng điện cao hơn nền Tiền đường khoảng 0,2m. Mái lợp ngói mũi hài, đường bờ nóc và bờ chảy xây bằng gạch, trát vữa, trang trí các hoa văn hình học dạng ô quả trám.
Hệ khung chịu lực của Thượng điện gồm 3 bộ vì, kiểu vì 4 hàng chân cột. Hai hàng cột cái được làm bằng gỗ lim, các hàng cột quân được thay thế bằng hệ tường bao. Vì nóc được làm theo kiểu “ván mê”, sơn son thếp vàng; vì nách làm theo kiểu “chồng rường”.
Chùa Trà Phương hiện còn lưu giữ nhiều hiện vật có giá trị từ thời Mạc. Đặc biệt, pho tượng Mạc Thái Tổ và phù điêu Thái hoàng Thái hậu Vũ Thị Ngọc Toàn đã được công nhận là bảo vật quốc gia theo Quyết định số 2283/QĐ-TTg ngày 31/12/2020 của Thủ tướng Chính phủ.
Chùa Nhân Trai
Chùa Nhân Trai nằm ở phía Tây làng Nhân Trai, trong không gian rộng và thoáng với diện tích khoảng 9.944,4m². Di tích gồm Tam quan, Tam bảo, Nhà Mẫu, Đền thờ vua, Nhà bia, Nhà khách và các công trình phụ trợ.
Tam bảo là công trình chính, gồm Tiền đường và Thượng điện liên kết thành một khối theo kiến trúc chữ Đinh.
Tiền đường có mặt bằng hình chữ nhật, gồm 5 gian, xây kiểu tường hồi bít đốc, tay ngai trụ biểu, mái lợp ngói mũi hài. Bờ nóc trang trí bình nước cam lồ, kìm nóc và mây cụm. Nền Tiền đường cao hơn sân khoảng 0,5m.
Khung chịu lực của Tiền đường được dựng trên 6 bộ vì, theo kiểu vì 5 hàng chân cột, gồm 2 hàng cột cái, 2 hàng cột quân và một hàng cột hiên. Các cột cái, cột quân được kê trên chân tảng đá xanh đục giật 4 cấp. Cấp dưới cùng hình vuông, ba cấp trên tạo thành dạng thớt tròn nhỏ dần lên, trang trí cánh sen và hạt ngọc.
Vì nóc Tiền đường làm theo kiểu “chồng rường giá chiêng”, vì nách kiểu “chồng rường”.
Thượng điện gồm 3 gian, xây tường hồi bít đốc, mái lợp ngói mũi hài. Trên mái trang trí các hình rồng, phượng, mây cụm và các mô típ truyền thống.
Hệ thống khung chịu lực của Thượng điện gồm 4 bộ vì bằng gỗ lim. Vì nóc làm kiểu “chồng rường giá chiêng”, vì nách kiểu “chồng rường”.
Trung tâm Thượng điện là Phật điện, nơi lưu giữ nhiều lớp tượng cổ được bố trí từ ngoài vào trong, từ thấp lên cao. Không gian thờ tự tạo nên vẻ tĩnh mịch, trang nghiêm và linh thiêng cho ngôi chùa.
Đền – chùa Hòa Liễu
Đền Hòa Liễu là nơi thờ Thái Hoàng Thái hậu Vũ Thị Ngọc Toàn, vợ vua Mạc Đăng Dung. Bà được ghi nhận là người có nhiều đóng góp trong việc mở mang, xây dựng làng xã, làm việc thiện và giúp đỡ cộng đồng.
Đền quay hướng Nam, nằm trên khu đất cao và được bố cục theo kiểu “tiền Nhất, hậu Đinh”, gồm Tiền bái hình chữ Nhất và đền chính hình chữ Đinh. Các cấp nền được bố trí cao dần về phía trong.
Tiền bái có mặt bằng hình chữ nhật, gồm 3 gian 2 chái, xây kiểu tường hồi bít đốc, mái lợp ngói mũi hài. Bờ nóc trang trí lưỡng long chầu hổ phù, kìm nóc, đấu chữ T, hoa chanh hộp rỗng và nhiều mô típ truyền thống.
Nền Tiền bái cao hơn sân khoảng 0,6m. Thềm hiên phía trước lát gạch bát, giật cấp tạo bậc lên xuống.
Bộ khung chịu lực của Tiền bái được dựng bằng gỗ lim, gồm 4 bộ vì, theo kiểu vì 5 hàng chân cột. Hai bộ vì trung tâm được làm trốn hàng cột cái phía trước nhằm mở rộng không gian.
Các cột được kê trên chân tảng đá xanh đục giật 3 cấp, cấp dưới hình vuông, hai cấp trên tạo kiểu thớt tròn và để trơn. Vì nóc Tiền bái làm kiểu “chồng rường, giá chiêng”. Hai vì nách gian trung tâm làm kiểu “kẻ ngồi”; vì nách hai gian bên làm kiểu “chồng rường trụ trốn”.
Sau Tiền bái, qua khoảng sân rộng khoảng 3m là đến đền chính, có bố cục mặt bằng chữ Đinh, gồm Đại bái và Hậu cung.
Đại bái gồm 3 gian, xây kiểu tường hồi bít đốc, mái lợp ngói mũi hài. Khung chịu lực gồm 4 bộ vì gỗ, vì nóc làm theo kiểu “chồng rường biến thể giá chiêng”, vì nách kiểu “chồng rường”.
Hậu cung gồm một gian 2 chái, nền cao hơn nền Đại bái khoảng 0,45m. Hệ mái làm theo kiểu chéo đao tàu góc, lợp ngói mũi hài. Bờ nóc đặt kìm nóc, các góc đao trang trí rồng và mây cách điệu.
Khung chịu lực của Hậu cung bằng gỗ. Vì nóc và vì nách phía trước làm kiểu “ván mê”; vì nách phía sau, sát tường hậu, làm kiểu “kẻ ngồi”.
Trang trí kiến trúc đền Hòa Liễu mang đặc trưng phong cách nghệ thuật cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, tập trung chủ yếu trên các cấu kiện gỗ tại Tiền bái. Các đề tài như lá lật, đao mác, mây cuộn và hoa sen được thể hiện trên đầu con rường, đầu xà nách, cốn vì nách và đấu kê.
Chùa Hòa Liễu có tên chữ là Thiên Phúc Tự, bố cục mặt bằng hình chữ Đinh, gồm 3 gian 2 chái, xây kiểu tường hồi bít đốc, tay ngai trụ biểu, mái lợp ngói mũi hài.
Tiền đường có mặt bằng hình chữ nhật, nền cao hơn sân khoảng 0,8m. Thành phần chịu lực chính là hệ thống vì kèo, với vì nóc kiểu “chồng rường giá chiêng” và vì nách kiểu “chồng rường”.
Hệ thống xà, cột của hai bộ vì có các đấu vuông thót đáy được vẽ trang trí hình hoa sen, các cấu kiện khác chủ yếu để trơn. Trên mái có kìm nóc và bức đại tự ghi ba chữ Hán “Thiên Phúc tự”, phía trên đặt bình nước cam lồ.
Thượng điện được nối liền với Tiền đường tại khoảng giữa, tạo thành bố cục chữ Đinh. Công trình gồm 3 gian, hệ thống khung chịu lực được làm tương đồng với các bộ vì của Tiền đường.
Mái Thượng điện có kết cấu hai tầng tám mái, lợp ngói mũi hài. Các góc đao trang trí rồng chầu phượng đón. Phần cổ diêm giữa hai tầng mái trang trí các đề tài tứ quý và chữ thọ.
Khu di tích đền và chùa Hòa Liễu hiện còn bảo lưu nhiều di vật mang phong cách nghệ thuật của nhiều thời kỳ lịch sử. Đáng chú ý là các di vật thời Mạc bằng đá như 3 pho tượng Tam thế, tượng Phật Quan Thế Âm và Đại Thế Chí, đôi rồng đá trước cửa chùa, bia đá Thiên Phúc Tự dựng dưới thời vua Mạc Phúc Nguyên, niên hiệu Quang Bảo năm 1561, tượng Thái Hoàng Thái hậu Vũ Thị Ngọc Toàn và cột đá “thạch trụ”.
Giá trị lịch sử và văn hóa của cụm di tích
Cụm di tích liên quan đến nhà Mạc ở Dương Kinh không chỉ lưu giữ những dấu tích vật chất của một vương triều mà còn phản ánh đời sống văn hóa, tín ngưỡng và sinh hoạt cộng đồng qua nhiều thế hệ.
Hệ thống di tích gồm các công trình thờ tự, tưởng niệm và kiến trúc dòng họ, tạo thành một không gian văn hóa có sự kết nối giữa lịch sử vương triều, tín ngưỡng dân gian, Phật giáo và truyền thống thờ cúng tổ tiên.
Nhiều lễ hội, lễ dâng hương được tổ chức tại các di tích nhằm tưởng niệm những nhân vật lịch sử của nhà Mạc, đồng thời tôn vinh những đóng góp của họ đối với cộng đồng và lịch sử dân tộc.
Đặc biệt, tại di tích đền – chùa Hòa Liễu còn duy trì Hội Minh Thề. Đây là một sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng đặc sắc, gắn với lời thề về sự trong sạch, công tâm và trách nhiệm của cộng đồng, qua đó phản ánh những quan niệm đạo đức, phép tắc ứng xử và tinh thần trách nhiệm trong đời sống xã hội truyền thống.
Các di tích trong cụm cũng lưu giữ nhiều hiện vật có giá trị lịch sử, nghệ thuật và tư liệu, góp phần nghiên cứu về vương triều Mạc cũng như lịch sử vùng đất Dương Kinh, Hải Phòng.
Đặc biệt, tại chùa Trà Phương hiện lưu giữ pho tượng Mạc Thái Tổ và phù điêu Thái hoàng Thái hậu Vũ Thị Ngọc Toàn, được công nhận là bảo vật quốc gia theo Quyết định số 2283/QĐ-TTg ngày 31/12/2020 của Thủ tướng Chính phủ. Những hiện vật này có giá trị đặc biệt trong việc nghiên cứu nghệ thuật điêu khắc và lịch sử thời Mạc.
Với hệ thống di tích, kiến trúc, hiện vật và các giá trị văn hóa phi vật thể còn được bảo tồn, Cụm di tích liên quan đến nhà Mạc ở Dương Kinh là nguồn tư liệu quan trọng để tìm hiểu về vương triều Mạc và lịch sử vùng đất Hải Phòng.
Ngày 17/01/2025, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 152/QĐ-TTg xếp hạng Cụm di tích liên quan đến nhà Mạc ở Dương Kinh là di tích quốc gia đặc biệt. Việc xếp hạng ghi nhận những giá trị nổi bật của quần thể trên các phương diện lịch sử, văn hóa và kiến trúc nghệ thuật, đồng thời góp phần nâng cao trách nhiệm bảo tồn, phát huy giá trị di tích trong đời sống đương đại.
Cụm di tích liên quan đến nhà Mạc ở Dương Kinh vì thế không chỉ là địa điểm lưu giữ dấu tích của một vương triều trong lịch sử Việt Nam mà còn là không gian văn hóa gắn kết giữa di sản vật thể và phi vật thể. Đây là một trong những địa điểm có giá trị trong hành trình tìm hiểu lịch sử nhà Mạc, vùng đất Dương Kinh và truyền thống văn hóa của thành phố Hải Phòng.










