Đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm, còn gọi là đền Quan Trạng hoặc đền thờ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, nằm trên địa bàn thôn 5, xã Nguyễn Bỉnh Khiêm, Thành phố Hải Phòng. Di tích gắn liền với cuộc đời, sự nghiệp và những đóng góp quan trọng của Nguyễn Bỉnh Khiêm, vị Trạng nguyên triều Mạc, nhà tư tưởng, nhà giáo, nhà thơ và danh nhân văn hóa lớn của Việt Nam thế kỷ XVI.
Đền thờ không chỉ là nơi tưởng niệm một nhân vật có ảnh hưởng sâu rộng trong lịch sử dân tộc mà còn là không gian sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của nhân dân địa phương. Quần thể di tích được hình thành trong không gian làng quê Trung Am, nơi lưu giữ nhiều dấu tích liên quan đến cuộc đời, gia đình, sự nghiệp dạy học và hoạt động trước tác của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Nguyễn Bỉnh Khiêm và quá trình hình thành di tích
Nguyễn Bỉnh Khiêm, tên húy là Văn Đạt, tự Hanh Phủ, hiệu Bạch Vân cư sĩ, sinh năm Tân Hợi 1491 tại làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại, trấn Hải Dương, nay thuộc xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Trong khoa thi năm Ất Mùi, dưới triều vua Mạc Đăng Doanh năm 1535, ông đỗ Tiến sĩ đệ nhất danh, tức Trạng nguyên. Sau khi thi đỗ, ông lần lượt đảm nhiệm nhiều chức vụ trong triều đình, từ Đông các Hiệu thư, Hữu Thị lang kiêm Đông các Đại học sĩ đến Thượng thư Bộ Lại, Thái bảo và được phong tước Trình Quốc công.
Năm 1542, sau khi dâng sớ xin chém 18 kẻ lộng thần nhưng không được chấp thuận, Nguyễn Bỉnh Khiêm cáo quan về quê ở ẩn. Ông dựng quán Trung Tân, lập am Bạch Vân làm nơi ở, dạy học, nghiên cứu, sáng tác thơ văn và lấy hiệu là Bạch Vân cư sĩ. Dù không trực tiếp tham gia triều chính, ông vẫn được nhà Mạc kính trọng, thường được hỏi ý kiến về những vấn đề hệ trọng của đất nước.
Am Bạch Vân từng là nơi đào tạo nhiều nhân tài, trong đó có những nhân vật nổi tiếng như Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh, Giáp Hải. Tầm ảnh hưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm không chỉ thể hiện qua hoạt động chính trị, giáo dục mà còn ở tư tưởng, đạo đức, triết học và những lời sấm truyền được lưu truyền trong dân gian. Ông được các học giả đương thời và hậu thế tôn kính, học trò suy tôn là Tuyết Giang phu tử.
Nguyễn Bỉnh Khiêm qua đời ngày 28 tháng Mười Một năm Ất Dậu, tức ngày 17/01/1586, hưởng thọ 95 tuổi. Ông để lại một di sản thơ ca đồ sộ với hơn 1.000 bài thơ, trong đó có khoảng 620 bài thơ chữ Hán và 153 bài thơ Nôm được biết đến rộng rãi. Những tác phẩm tiêu biểu gồm Bạch Vân am thi tập và Bạch Vân quốc ngữ thi tập. Thơ văn của ông thể hiện tình yêu quê hương, đất nước, tư tưởng nhập thế, triết lý nhân sinh, thái độ phê phán thói tham quan, nhũng nhiễu và khát vọng giữ gìn đạo lý xã hội.
Theo một số tư liệu, đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm được dựng sau khi ông qua đời và hoàn thành vào cuối năm 1586. Tuy nhiên, tấm bia “Từ vũ bi ký…” lập năm Vĩnh Hựu thứ hai (1736) hiện còn lưu giữ tại di tích cho biết đền đã được nhân dân làng Trung Am, tổng Thượng Am đóng góp công sức, tiền của để trùng tu, tôn tạo vào năm 1735. Đến năm 1928, đền tiếp tục được tu sửa với kiến trúc chữ “Đinh”, mang đậm phong cách nghệ thuật thời Nguyễn.
Năm 1991, nhân kỷ niệm 500 năm ngày sinh Nguyễn Bỉnh Khiêm, di tích được tu bổ, phục hồi và mở rộng. Nhiều hạng mục mới được xây dựng như tượng đài, quảng trường, hồ bán nguyệt, tạo nên diện mạo và không gian cảnh quan tương đối hoàn chỉnh như hiện nay.
Đền thờ tọa lạc trong không gian rộng lớn, quay hướng Đông, phía trước là hồ nước; phía Bắc là triền đê và dòng Tuyết Giang; phía Đông hướng ra biển; phía Nam là xóm làng; phía Tây là những cánh đồng lúa và thuốc lào xanh ngát. Toàn bộ khu di tích có diện tích khoảng 91.500,7m², trong đó khu vực I rộng 3.137,5m² và khu vực II rộng 88.327,2m². Các hạng mục chính gồm đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm, đền thờ thân phụ và thân mẫu, am Bạch Vân, quán Trung Tân, tháp Bút Kình Thiên, mộ phần cụ Nguyễn Văn Định, quảng trường và tượng đài Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Kiến trúc và các công trình trong khu di tích
Không gian dẫn vào đền được tổ chức qua hệ thống nghi môn ngoại và nghi môn nội. Nghi môn ngoại được tạc bằng đá, đỉnh hai cột giữa tạo hình quả dành dành, hai cột bên đặt đôi nghê quay mặt vào lòng cổng. Các khối đèn lồng trên trụ được chạm tứ linh trong các thế hàm thư, cõng thư, cuốn thư; thân trụ trang trí câu đối chữ Hán, phần đế tạo hình thắt đáy cổ bồng.
Nghi môn nội có kiến trúc hai tầng tám mái, các góc đao cong gắn hình rồng, phượng. Trên cổ diêm và thân cổng đắp nhiều câu đối, đại tự chữ Hán. Mặt ngoài ghi “Trung Am từ”, mặt trong ghi “Trình Quốc Công”, thể hiện rõ tên gọi của di tích và tước hiệu được triều đình phong cho Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Phía trước đền là hệ thống hồ Thái Ất và Thái Nhâm. Giữa hồ có một đảo nhỏ, nối với bờ bằng cây cầu đá xanh năm nhịp. Thân cầu được chạm khắc các hoa văn sóng nước mềm mại, tạo nên cảnh quan hài hòa giữa kiến trúc và mặt nước. Trên đảo đặt bia đá ghi việc dựng lại đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Đền thờ chính có bố cục mặt bằng hình chữ “Đinh”, gồm tiền tế ba gian hai chái và hậu cung hai gian. Tiền tế có bốn bộ vì, 22 cột gỗ lim, bộ vì nóc kết cấu theo kiểu “giá chiêng chồng rường”. Các cấu kiện được chạm bong kênh với đề tài lá lật, cánh sen, rồng, vân mây, sóng nước, cá chép, hoa sen và các họa tiết vân hóa long. Bốn đầu dư chạm thủng kết hợp chạm bong hình đầu rồng, mang phong cách mỹ thuật thời Nguyễn đầu thế kỷ XX. Phần ván mê ở các vì nách được trang trí dày đặc, thể hiện kỹ thuật chạm khắc công phu.
Hậu cung có tường hồi bít đốc, hệ thống vì kèo liên kết theo kiểu ván mê và giá chiêng chồng rường. Các đề tài trang trí gồm lưỡng long chầu nhật, cây mai, cành sen, rùa, long mã và nhiều họa tiết truyền thống. Trong cung cấm đặt khám và tượng thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Đền thờ thân phụ và thân mẫu Nguyễn Bỉnh Khiêm được khởi công xây dựng năm 2010, có mặt bằng chính hình chữ “Công”, gồm tiền tế, ống muống, hậu cung, hai tòa giải vũ và hệ thống Nam môn, Bắc môn. Các công trình được xây dựng theo kiến trúc truyền thống, sử dụng các kiểu kết cấu chồng rường giá chiêng, chồng rường trụ trốn và vì ván mê. Mái lợp ngói vẩy, các cấu kiện trang trí hoa dây, lá lật, hoa sen, phù hợp với không gian thờ phụng gia đình của danh nhân.
Am Bạch Vân được dựng sau khi Nguyễn Bỉnh Khiêm cáo quan về quê. Đây từng là nơi ở, nơi dạy học và tiếp đón các sứ giả, quan lại của nhà Mạc, nhà Trịnh và nhà Nguyễn đến tham vấn về việc quân quốc, chính sự. Sau thời gian dài bị hư hỏng, am được phục dựng năm 2004 theo mặt bằng chữ “Nhất”, gồm ba gian, dựng trên bốn bộ vì với 24 cột. Các họa tiết trang trí gồm trụ đấu hóa sen, lá lật, hoa văn cách điệu hình rồng và các mảng chạm bong kênh trên rường, câu đầu, bẩy hiên.
Quán Trung Tân được Nguyễn Bỉnh Khiêm dựng khi ông rời chốn quan trường về quê dạy học. Công trình từng nằm bên bến đò Hàn, gắn với không gian sinh hoạt, giảng dạy và giao tiếp của Trạng Trình. Qua tư liệu của Vũ Phương Đề năm 1742 và Nguyễn Thiếp năm 1777, có thể thấy quán Trung Tân đã bị hư hỏng, biến mất trong khoảng thời gian giữa hai lần ghi chép này. Năm 2001, quán được dựng lại với ba gian, trong khuôn viên rộng khoảng 905,5m².
Tháp Bút Kình Thiên có tổng diện tích khoảng 845,5m². Theo truyền thuyết, tháp do học trò Nguyễn Bỉnh Khiêm dựng cách đây hơn 400 năm để ca ngợi tài năng và đức độ của người thầy, ví như cây bút chống trời. Qua thời gian, gò đất bị bào mòn, tháp bị đổ nát và được xây dựng lại dưới thời Nguyễn theo kiểu hai tầng tám mái. Cửa tháp có các vế câu đối, bên trong để rỗng và đặt bát hương.
Mộ phần cụ Nguyễn Văn Định, thân phụ Nguyễn Bỉnh Khiêm, nằm trong khu vực phía sau di tích. Cụ có hiệu Cù Xuyên tiên sinh, từng được vua Mạc phong tước Thái bảo Nghiêm quận công. Sinh thời, cụ làm nghề dạy học và từng theo học tại nhà Thái học. Sau khi qua đời, cụ được an táng tại quê nhà Trung Am.
Quảng trường và tượng đài Nguyễn Bỉnh Khiêm là không gian lớn nhất trong khu di tích, đồng thời là nơi tổ chức các lễ hội và sự kiện văn hóa, giáo dục. Tượng Trạng Trình được tạc bằng đá granit, cao 5,7m, nặng khoảng 8,5 tấn, thể hiện hình ảnh ông trong tư thế ngồi, tay phải cầm bút, tay trái cầm sách, mặc y phục nhà nho. Hai bức phù điêu hai bên tượng, mỗi bức cao hơn 5m và dài trên 20m, tái hiện cuộc đời, sự nghiệp Nguyễn Bỉnh Khiêm và các giai đoạn lịch sử của địa phương từ thời kỳ thực dân Pháp xâm lược đến hiện nay.
Hiện vật, lễ hội và giá trị của di tích
Đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm còn lưu giữ nhiều cổ vật có niên đại từ thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX, gồm bản chúc, bát bửu, long ngai, bài vị, câu đối, đại tự và các đồ thờ truyền thống. Đáng chú ý là bia đá “Từ vũ bi ký…” lập năm Vĩnh Hựu thứ hai (1736), dù hiện đã bị mờ nhiều chữ nhưng vẫn cung cấp thông tin quan trọng về lịch sử dựng lại đền thờ. Ngoài ra còn có bát hương gốm men vàng nâu thế kỷ XVIII và một tảng đá xanh hình chữ nhật khắc ba chữ Hán “Trường Xuân Kiều”. Theo truyền thuyết, dòng chữ này do chính Nguyễn Bỉnh Khiêm viết khi vận động nhân dân xây dựng cầu phục vụ đời sống cộng đồng.
Lễ hội đền Trạng được tổ chức hằng năm từ ngày 27 đến ngày 29 tháng Mười Một âm lịch, gắn với ngày mất của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Các nghi lễ truyền thống gồm lễ Mộc dục, rước văn, cáo yết cùng nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ và trò chơi dân gian như đấu vật, cờ tướng, múa tứ linh, đua thuyền, pháo đất, đu sòng, đu tiên, múa rối cạn và rối nước. Lễ hội là dịp để nhân dân tưởng nhớ công lao, tài năng, nhân cách của Trạng Trình, đồng thời thể hiện truyền thống tôn sư trọng đạo và đạo lý uống nước nhớ nguồn.
Hằng năm, nhân dịp khai giảng năm học mới, thành phố Hải Phòng còn tổ chức lễ biểu dương học sinh, sinh viên tiêu biểu xuất sắc tại khu di tích. Hoạt động này tạo nên sự kết nối giữa di sản lịch sử với công tác giáo dục hiện đại, khuyến khích thế hệ trẻ noi gương Nguyễn Bỉnh Khiêm trong học tập, rèn luyện, cống hiến và xây dựng quê hương.
Đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm là nơi hội tụ nhiều giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hóa, giáo dục, kiến trúc và nghệ thuật. Di tích không chỉ ghi dấu cuộc đời của một vị Trạng nguyên tài năng, một nhà giáo lớn và một nhà thơ có tư tưởng sâu sắc, mà còn phản ánh truyền thống hiếu học lâu đời của vùng đất Vĩnh Bảo. Các công trình như am Bạch Vân, quán Trung Tân, tháp Bút Kình Thiên, đền thờ thân phụ và thân mẫu cùng hệ thống hồ, quảng trường, tượng đài đã tạo thành một không gian tưởng niệm có chiều sâu, kết hợp giữa cảnh quan làng quê, kiến trúc truyền thống và ký ức lịch sử.
Với những giá trị đặc biệt tiêu biểu, di tích lịch sử Đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng, đã được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 2367/QĐ-TTg ngày 23/12/2015.










