Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật đền Phù Đổng, còn được biết đến với tên gọi Khu di tích lịch sử đền Phù Đổng hay Khu di tích lịch sử đền Gióng, nằm trên địa bàn xã Phù Đổng, thành phố Hà Nội. Đây là vùng đất gắn với truyền thuyết Thánh Gióng, một trong những hình tượng tiêu biểu của lịch sử và tín ngưỡng dân gian Việt Nam.
Với những giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hóa, kiến trúc nghệ thuật và lễ hội, khu di tích đã được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt năm 2013.
Vùng đất gắn với truyền thuyết Thánh Gióng
Phù Đổng thuộc vùng Kinh Bắc xưa, là vùng đất có lịch sử lâu đời và truyền thống văn hóa phong phú. Nơi đây lưu giữ nhiều địa điểm gắn với truyền thuyết về người anh hùng làng Gióng, trong đó có đền Thượng, đền Hạ, Miếu Ban, Cố viên, Đống Đàm, Giá ngự, đình Hạ Mã và nhiều địa điểm liên quan đến các lớp truyền thuyết, nghi lễ của Hội Gióng.
Theo tín ngưỡng dân gian, Gióng còn được tôn xưng là Phù Đổng Thiên Vương và Xung Thiên Thần Vương, là một trong Tứ bất tử của tín ngưỡng dân gian Việt Nam.
Truyền thuyết về Thánh Gióng có nhiều dị bản, nhưng đều tập trung vào hình tượng một người anh hùng xuất hiện vào buổi đầu dựng nước, đứng lên chống giặc ngoại xâm. Từ một cậu bé lên ba chưa biết nói, Gióng vươn mình thành tráng sĩ, cưỡi ngựa sắt, cầm roi sắt đánh giặc rồi bay về trời. Hình tượng ấy qua nhiều thế hệ đã trở thành biểu tượng về sức mạnh cộng đồng, tinh thần chống ngoại xâm và khát vọng bảo vệ đất nước.
Khu di tích đền Phù Đổng hiện gồm 8 điểm di tích thành phần, phân bố trên địa bàn ba thôn của xã Phù Đổng, với tổng diện tích khoảng 60.343,7m².
Các điểm di tích chính
Đền Thượng
Đền Thượng, còn gọi là đền Phù Đổng Thiên Vương, là công trình trung tâm của khu di tích. Đền quay về hướng Nam, phía trước hướng ra đê sông Đuống. Quần thể kiến trúc gồm nhiều hạng mục như thủy đình, cổng Ngũ môn, phương đình, tiền đường, trung đường, hậu cung, tả mạc, hữu mạc, nhà giám, nhà khách và các công trình phụ trợ.
Thủy đình nằm giữa ao trước đền, có mặt bằng hình vuông, hai tầng tám mái, lợp ngói mũi hài. Kết cấu khung gỗ theo kiểu chồng rường giá chiêng, hệ mái được nâng đỡ bởi bốn hàng chân cột. Công trình tạo nên một không gian kiến trúc đặc trưng của đình, đền truyền thống vùng đồng bằng Bắc Bộ.
Cổng Ngũ môn gồm ba cửa chính và hai cửa phụ, mang dáng dấp một cổng thành. Các cửa có dạng vòm cuốn, cánh cửa theo kiểu thượng song, hạ bản. Phía trên là một tòa nhà hai tầng tám mái, tạo thành điểm nhấn kiến trúc nổi bật khi bước vào khu đền.
Phương đình cũng có kết cấu hai tầng tám mái, mặt bằng hình vuông, mái lợp ngói mũi hài. Các bờ nóc, bờ dải được trang trí hoa chanh và hoa văn hình học, tám góc đao gắn hình lá lật. Hệ khung mái được nâng đỡ bởi bốn hàng cột.
Tiền tế gồm năm gian, hai dĩ, tường hồi bít đốc và mái chồng diêm hai tầng. Hệ mái được nâng đỡ bởi sáu bộ vì gỗ với các dạng kết cấu truyền thống như thượng đinh, hạ kẻ và thượng giá chiêng, hạ cốn, bẩy hiên.
Trung tế có quy mô tương tự với năm gian, hai dĩ, mái lợp ngói mũi hài. Bộ khung gồm sáu bộ vì gỗ, tì lực trên sáu hàng chân cột, tạo thành không gian chuyển tiếp trước khi vào khu vực hậu cung.
Hậu cung có mặt bằng hình chữ Công, gồm ngoại cung, ống muống và hậu cung. Hai bên là tả mạc và hữu mạc, mỗi dãy chín gian, tường hồi bít đốc, mái lợp ngói mũi hài và bộ khung gỗ theo kết cấu truyền thống.
Nhà khách có mặt bằng hình chữ Nhất, sử dụng hệ thống cửa bức bàn. Nhà giám có mặt bằng hình chữ U, gồm cung chính và hai dãy nhà ngang hai bên. Toàn bộ hệ thống công trình tạo thành một quần thể kiến trúc có quy mô lớn, phản ánh khá rõ đặc trưng của kiến trúc đền, đình truyền thống Bắc Bộ.
Đền Hạ
Đền Hạ, còn gọi là đền Mẫu, nằm phía ngoài đê sông Đuống và quay về hướng Tây. Đây là nơi thờ Mẫu, gắn với truyền thuyết về mẹ của Thánh Gióng.
Quần thể gồm nghi môn, tả vu, hữu vu và kiến trúc chính dạng chữ Tam với ba tòa tiền tế, trung tế và hậu cung.
Nghi môn có ba cửa dạng vòm cuốn, phía trên cửa chính là tòa nhà tám mái. Hai dãy tả, hữu mạc mỗi bên gồm năm gian, hai dĩ, mái lợp ngói mũi hài, hệ khung gỗ theo kết cấu truyền thống.
Tiền tế và trung tế đều có năm gian, hai chái, bốn mái với các đầu đao cong hình lá lật. Những chi tiết trang trí như đầu rồng, hoa văn trên bờ nóc và hệ mái ngói tạo nên vẻ cổ kính cho công trình. Hậu cung gồm năm gian, hai dĩ, tường hồi bít đốc, bộ khung gỗ được kết cấu theo kiểu truyền thống.
Miếu Ban
Miếu Ban nằm cách đền Thượng khoảng 200m, ở phía trong đê sông Đuống. Đây là địa điểm gắn với truyền thuyết về mẹ Thánh Gióng.
Di tích gồm nghi môn, tả vu, hữu vu, sân và tòa kiến trúc chính dạng chữ Đinh.
Nghi môn có hai tầng, bốn mái kiểu chồng diêm, lợp ngói mũi hài. Phần mái được trang trí hình mặt trời, hoa chanh và các đầu rồng cách điệu.
Tòa tiền tế gồm bảy gian, tường hồi bít đốc dạng tay ngai, mái lợp ngói mũi hài. Bờ nóc trang trí hoa chanh, chính giữa có bức cuốn thư với hình hổ phù. Hệ khung gồm tám bộ vì gỗ, sử dụng các kiểu kết cấu truyền thống.
Phía sau tiền tế là tòa miếu một gian, hai chái, tạo thành mặt bằng hình chữ Đinh. Đây là công trình có quy mô nhỏ nhưng góp phần hoàn chỉnh không gian thờ tự và hệ thống di tích gắn với truyền thuyết Thánh Gióng.
Đình Hạ Mã
Đình Hạ Mã nằm về phía trái đền Thượng, có diện tích khoảng 200m². Theo hệ thống di tích, đây là địa điểm gắn với những nghi thức và diễn trình của Hội Gióng.
Hiện nay, công trình chỉ còn phần móng do kiến trúc cũ đã bị hủy hoại và chưa được bảo tồn đầy đủ.
Cố viên
Cố viên, còn gọi là vườn rau hoặc vườn cà, nằm trên thềm đất bãi ven sông, cách đền Hạ khoảng 500m.
Theo truyền thuyết, đây là nơi mẹ Gióng ra vườn hái rau và ướm chân vào dấu chân của một người khổng lồ. Sau đó bà mang thai và sinh ra Gióng.
Tại Cố viên hiện có một ngôi miếu nhỏ với kết cấu hai tầng tám mái, bốn mặt để thông. Bên cạnh là một tảng đá có hình dạng đặc biệt với nhiều điểm lồi, lõm, được dân gian coi là dấu chân người khổng lồ. Gần đó có tấm bia mang dòng chữ “Đổng Thiên Vương Thánh Mẫu Cố trạch”.
Giá ngự
Giá ngự nằm phía bên kia đê, ở khoảng giữa đền Thượng và đền Hạ. Công trình được phục dựng vào đầu thế kỷ XX.
Cổng vào có hai trụ biểu cao khoảng 6m, trên đỉnh đặt tượng nghê. Các ô lồng đèn trang trí hình tượng tứ linh, tứ quý, thân trụ bổ khung và đắp câu đối. Đây là một trong những địa điểm quan trọng trong không gian diễn trình của Hội Gióng.
Khu đánh cờ Đống Đàm
Khu đánh cờ Đống Đàm là một bãi đất rộng thuộc thôn Phù Đổng, cách đền Thượng khoảng 3km. Theo truyền thống Hội Gióng, đây là nơi diễn ra trận đánh giặc Ân lần thứ nhất của Gióng trong hội.
Không gian này góp phần tái hiện các lớp diễn xướng dân gian mô phỏng cuộc chiến đấu của Thánh Gióng, qua đó làm rõ mối liên hệ giữa truyền thuyết, tín ngưỡng và lễ hội.
Bãi đánh cờ – Soi Bia
Bãi đánh cờ – Soi Bia thuộc địa phận thôn Phù Đổng, là địa điểm diễn ra trận đánh giặc Ân lần thứ hai của Gióng trong diễn trình Hội Gióng.
Cùng với Đống Đàm và các địa điểm khác, nơi đây tạo thành một không gian rộng lớn để cộng đồng địa phương tái hiện câu chuyện Thánh Gióng đánh giặc thông qua nghi lễ và diễn xướng.
Hệ thống di vật, cổ vật
Bên cạnh giá trị kiến trúc, đền Phù Đổng còn lưu giữ hệ thống di vật, cổ vật phong phú về loại hình và chất liệu.
Đáng chú ý là 37 đạo sắc phong có niên đại từ thời Lê Trung Hưng, Tây Sơn đến thời Nguyễn. Ngoài ra còn có hệ thống bia đá, rồng đá, nghê đá, hoành phi, câu đối, cửa võng, long ngai, kiệu, hương án, tượng thờ, bát bửu và nhiều đồ thờ tự khác.
Các di vật không chỉ có giá trị về nghệ thuật tạo hình mà còn phản ánh quá trình phát triển của tín ngưỡng, đời sống văn hóa và quan niệm của cộng đồng qua nhiều giai đoạn lịch sử.
Hội Gióng Phù Đổng
Nếu hệ thống di tích tạo nên không gian vật thể thì Hội Gióng chính là phần di sản sống làm nên sức hấp dẫn đặc biệt của Phù Đổng.
Hội diễn ra trong ba ngày, từ mùng 7 đến mùng 9 tháng 4 âm lịch, với nhiều nghi lễ và hoạt động diễn xướng mô phỏng cuộc chiến đấu của Thánh Gióng với giặc Ân.
Trong lễ hội có sự đan xen của nhiều lớp tín ngưỡng dân gian, trong đó có tín ngưỡng thờ thần Mặt Trời, tín ngưỡng phồn thực và những yếu tố liên quan đến nghề rèn sắt. Các nghi lễ, nhân vật, đạo cụ và không gian diễn xướng được tổ chức theo trình tự truyền thống, tạo nên một hình thức sân khấu dân gian đặc biệt.
Điểm nổi bật của Hội Gióng là việc tái hiện bằng diễn xướng câu chuyện Thánh Gióng đánh giặc. Những trận đánh, đoàn quân, ngựa, cờ và các nghi thức trong hội không chỉ kể lại một huyền thoại mà còn thể hiện cách cộng đồng lưu giữ ký ức về buổi đầu dựng nước và giữ nước.
Với những giá trị tiêu biểu, Hội Gióng ở đền Phù Đổng đã được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, góp phần khẳng định giá trị của lễ hội trong đời sống văn hóa Việt Nam.
Giá trị của di tích đền Phù Đổng
Đền Phù Đổng là một quần thể di tích có sự kết hợp giữa giá trị lịch sử, kiến trúc nghệ thuật, tín ngưỡng dân gian, hệ thống di vật và lễ hội truyền thống. Các địa điểm như đền Thượng, đền Hạ, Miếu Ban, Cố viên, Giá ngự, Đống Đàm và Soi Bia cùng tạo nên một không gian văn hóa gắn chặt với truyền thuyết Thánh Gióng.
Hình tượng Phù Đổng Thiên Vương qua nhiều thế hệ đã trở thành biểu tượng về tinh thần chống ngoại xâm và sức mạnh của cộng đồng. Trong khi đó, hệ thống kiến trúc và di vật tại khu di tích giúp lưu giữ những dấu tích vật chất của đời sống tín ngưỡng và nghệ thuật truyền thống vùng đồng bằng Bắc Bộ.
Ngày nay, đền Phù Đổng là một địa điểm quan trọng trong hành trình tìm hiểu lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng dân gian Hà Nội. Đặc biệt, vào mùa Hội Gióng, nơi đây trở thành không gian văn hóa cộng đồng, nơi truyền thuyết về người anh hùng làng Gióng tiếp tục được kể lại qua nghi lễ và diễn xướng.
Với những giá trị đặc biệt đó, Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật đền Phù Đổng đã được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt năm 2013, trở thành một trong những di tích tiêu biểu của Hà Nội và vùng văn hóa Kinh Bắc xưa.










