Khu di tích lịch sử Khởi nghĩa Bắc Sơn là một quần thể di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu trong hệ thống di tích lịch sử quân sự cách mạng Việt Nam. Nơi đây ghi dấu nhiều sự kiện quan trọng trong quá trình hình thành, phát triển của phong trào cách mạng ở Bắc Sơn, từ thời kỳ tiếp thu đường lối cách mạng, xây dựng tổ chức Đảng, phát triển phong trào đấu tranh quần chúng đến Khởi nghĩa Bắc Sơn năm 1940, sự ra đời của khu căn cứ du kích, Đội Cứu Quốc quân và phong trào chuẩn bị Tổng khởi nghĩa giành chính quyền năm 1945.
Các sự kiện tiêu biểu gắn với khu di tích gồm quá trình tiếp thu đường lối cách mạng và thành lập Chi bộ Đảng đầu tiên ở Bắc Sơn giai đoạn 1930 – 1936; phong trào đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ và sự ra đời của Đảng bộ huyện Bắc Sơn giai đoạn 1936 – 1939; Khởi nghĩa Bắc Sơn ngày 27/9/1940, mở đầu cho cao trào đấu tranh cách mạng trong cả nước; sự thành lập Khu căn cứ du kích Bắc Sơn ngày 16/10/1940; quá trình thành lập Mặt trận Việt Minh, xây dựng lực lượng chuẩn bị khởi nghĩa trong những năm 1941 – 1945; sự ra đời của Đội Cứu Quốc quân Bắc Sơn tại căn cứ địa Bắc Sơn – Võ Nhai vào tháng 2/1941; cùng cao trào kháng Nhật cứu nước và cuộc khởi nghĩa giành chính quyền năm 1945.
Trong thời kỳ hoạt động cách mạng, khu vực Bắc Sơn còn là an toàn khu, nơi nuôi giấu, bảo vệ các cơ quan và cán bộ cao cấp của Trung ương, Xứ ủy Bắc Kỳ. Đây cũng là địa bàn đặt trạm liên lạc giữa Trung ương với Xứ ủy Bắc Kỳ và các khu vực khác, đồng thời cung cấp tài liệu phục vụ công tác huấn luyện cán bộ cách mạng của Đảng.
Khu di tích gồm 12 điểm, được xếp hạng di tích quốc gia năm 1992, phân bố trên địa bàn 6 xã Tân Hương, Hưng Vũ, Vũ Lăng, Vũ Lễ, Tân Lập và Long Đống thuộc huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
Hệ thống các điểm di tích trong Khu di tích Khởi nghĩa Bắc Sơn
Di tích Bó Tát, còn gọi là Mỏ Tát, có tổng diện tích 15.798 m². Hiện nay, địa điểm đã trở thành phế tích, chỉ còn phần nền móng ngôi nhà cũ của ông Đường Văn Thông rộng khoảng 54 m² cùng một số tảng đá kê chân cột. Xung quanh nền nhà là khu vườn trồng cây ăn quả và những bụi tre gai, gợi lại không gian sinh hoạt và hoạt động cách mạng trước đây.
Di tích đồi Nà Kheo có diện tích 4.463 m², nằm trên đỉnh một quả đồi cao, xung quanh là ruộng lúa, bụi tre, rừng cây rậm rạp và một số nhà dân. Dưới chân đồi còn hệ thống đường hào dài khoảng 30 m, cao khoảng 1 m và rộng 0,5 m, gắn với công tác phòng thủ, bảo vệ địa bàn trong thời kỳ cách mạng.
Di tích đình Nông Lục nằm phía Bắc tỉnh lộ 241, hai bên đầu hồi có hai cây đa lớn khoảng 100 năm tuổi. Đình được xây dựng dưới thời Nguyễn trên một gò đất cao, có tổng diện tích 182,7 m². Công trình mang kiến trúc gỗ truyền thống kiểu nhà sàn, mặt sàn cao khoảng 0,7 m so với nền đất, mái lợp ngói máng, bốn mặt bưng kín bằng ván. Đình thờ thần Cao Sơn Quý Minh. Các cấu kiện kiến trúc được chạm khắc nhiều đề tài nghệ thuật truyền thống như tứ linh, lưỡng long vờn mây, lưỡng long chầu nhật, nghê và hoa lá, thể hiện giá trị văn hóa, nghệ thuật đặc sắc của đình làng vùng Bắc Sơn.
Di tích đồn Mỏ Nhài nằm trên một quả đồi có diện tích hơn 78.000 m², án ngữ tuyến đường từ thị trấn Bắc Sơn đi Trấn Yên và Vũ Lăng. Trên đỉnh đồi, thực dân Pháp từng xây dựng hệ thống đồn bốt, nhà cửa kiên cố, bên ngoài bao quanh bằng tường đá hộc dày gần 40 cm và hàng rào dây thép gai dày đặc. Con đường duy nhất từ chân đồi lên đồn rộng khoảng 6 m. Hiện nay, dấu tích còn lại gồm hai nền móng nhà bằng đá hình chữ nhật, cao khoảng 1,5 m và dày 0,6 m. Phía Bắc đỉnh đồi, cách nền đồn khoảng 100 m, đã xây dựng tượng đài chiến thắng Đồn Mỏ Nhài. Dưới chân đồi, sát tỉnh lộ, có bia ghi dấu sự kiện lịch sử.
Di tích Thâm Thoông – Dập Dị là một đoạn đèo nằm trên tỉnh lộ 241, tuyến đường Bắc Sơn – Vũ Lăng, có tổng diện tích 2.647 m². Vị trí diễn ra sự kiện lịch sử nằm ở lưng chừng đèo, kéo dài khoảng 500 m, thuộc xã Vũ Lăng. Hiện tại, biển ghi dấu sự kiện được đặt ngay bên trái tuyến đường Bắc Sơn – Vũ Lăng.
Di tích Trường Vũ Lăng có diện tích 844 m², phía Tây Bắc giáp đường bê tông liên thôn và Trường Trung học Cơ sở Vũ Lăng. Khuôn viên được bao quanh bằng tường rào xây gạch, có vườn hoa và cây cảnh. Tại đây có bia ghi dấu sự kiện cùng công trình trường học cũ do thực dân Pháp xây dựng năm 1927. Đây là ngôi nhà cấp 4, ba gian, diện tích 102 m², hiện đã được sửa chữa, cải tạo thành Nhà trưng bày truyền thống, phục vụ việc giới thiệu lịch sử phong trào cách mạng Bắc Sơn.
Di tích Sa Khao, còn gọi là Phia Khao, nằm trong lũng Sa Khao, có diện tích 2.626 m², được bao bọc bởi núi Sa Khao và núi Pò Nến, độ cao trung bình từ 500 đến 550 m so với mực nước biển. Đây từng là nơi nuôi giấu cán bộ và là địa điểm hoạt động của Đoàn cán bộ Trung ương cùng Châu ủy Bắc Sơn tại nhà ông Lý Văn Tình, thân phụ bà Lý Thị Quyên. Ngôi nhà cũ nay đã trở thành phế tích, chỉ còn nền đất rộng 67,5 m², dài 9 m, rộng 7,5 m, quay về hướng Đông Nam. Trên nền nhà cũ, con cháu gia đình đã dựng lại một ngôi nhà sàn bằng tre nứa, hai tầng, diện tích khoảng 30 m². Bên trái nhà là ao cá rộng khoảng 300 m², trước đây được sử dụng để nuôi cá làm nguồn thực phẩm tiếp tế cho cán bộ cách mạng; bên phải là vườn cây của gia đình. Đầu đường vào di tích hiện có bia ghi dấu sự kiện.
Di tích Khuổi Nọi nằm trong khu rừng Tam Tấu, có diện tích 33.151 m², được bao quanh bởi các dãy núi cao và hệ thực vật phong phú. Đây là địa bàn hoạt động bí mật của Đội Cứu Quốc quân. Địa hình hiểm trở nhưng có nhiều hướng rút lui an toàn khi xảy ra biến động, trong đó phía Nam có thể vượt sang xã Phú Thượng, huyện Võ Nhai; phía Đông có thể băng rừng đến khu vực Tân Thành, Tân Hương của huyện Bắc Sơn. Di tích hiện còn các địa điểm từng dựng lán trại và sân luyện tập của Cứu Quốc quân. Năm 2014, một số hạng mục đã được đầu tư xây dựng, gồm chốt canh gác, hai lán trại, trong đó có một lán chỉ huy và một lán sinh hoạt đội viên, cùng cụm biểu tượng tôn vinh, khuôn viên và lễ đài.
Di tích Lân Pán có diện tích 11.000 m², nằm trên sườn núi đá vôi Pác Ca, độ cao trung bình khoảng 500 m so với mực nước biển. Xung quanh là sườn núi và vườn cây ăn quả của người dân. Địa điểm gắn với sự kiện lịch sử là khu đất đá rộng khoảng 100 m², bao quanh bởi những mỏm đá tai mèo cao từ 40 đến 80 cm và một mái đá tự nhiên cao khoảng 7 m. Từ đây có thể quan sát vùng rộng lớn của cánh đồng Lân Pán và tuyến giao thông liên xã Hữu Vĩnh – Tân Lập – Tân Hương. Lân Pán từng là địa điểm hoạt động bí mật của Đoàn cán bộ Trung ương Đảng trong quá trình triển khai Nghị quyết Trung ương 8, đồng thời củng cố và phát triển lực lượng vũ trang cơ sở tại Đảng bộ Bắc Sơn. Cách di tích khoảng 500 m hiện có bia ghi dấu sự kiện.
Di tích Lân Táy – Mỏ Pia có tổng diện tích hơn 24 ha, gồm hai địa điểm là hang Mỏ Pia và khu vực Lân Táy. Hang Mỏ Pia nằm ở phía Nam, là một hang đá có diện tích khoảng 3.000 m², cửa hang cao 7 m và rộng 4 m. Khu vực Lân Táy nằm ở phía Bắc, từng là nơi dựng lán nghỉ của Đoàn cán bộ cao cấp Trung ương Đảng. Địa hình nơi đây gồm nhiều bãi đá và khu đất xen kẽ, bao quanh bởi những dãy núi đá nhỏ trùng điệp, độ cao trung bình từ 600 đến 700 m so với mực nước biển, tạo thành một lòng chảo rộng hơn 1 ha. Địa hình kín đáo, hiểm trở, có nhiều cây cối che phủ, dân cư thưa thớt, khí hậu trong lành và khả năng giao thông tương đối thuận lợi đã tạo điều kiện cho hoạt động bí mật, đồng thời giúp lực lượng cách mạng rút lui an toàn khi có biến động.
Di tích hang Mỏ Rẹ có diện tích 9.304 m², nằm trong núi Mỏ Rẹ rộng 38.608 m², độ cao trung bình khoảng 480 m so với mực nước biển. Dưới chân núi là khu vực bãi nước ngập, xung quanh có ruộng và vườn của người dân. Hang nằm ở lưng chừng núi, cửa quay về hướng Tây Bắc, đường lên xuống hiểm trở và khó đi. Phía ngoài hang được cây cối che phủ nên từ xa gần như không thể nhận biết cửa hang. Đây từng là địa điểm hoạt động bí mật của các đồng chí lãnh đạo Xứ ủy Bắc Kỳ, đồng thời là nơi diễn ra cuộc chiến đấu ác liệt phá vòng vây của địch ngày 28/8/1941.
Di tích Đèo Tam Canh nằm trên tuyến Quốc lộ 1B nối huyện Bình Gia với huyện Bắc Sơn, thuộc địa phận xã Long Đống. Đèo dài gần 4 km, độ cao trung bình từ 450 đến 480 m, xung quanh là những dãy núi đá vôi cao khoảng 550 đến 650 m so với mực nước biển, phủ đầy cây xanh. Trên đỉnh đèo Tam Canh hiện đã được lựa chọn để xây dựng biểu tượng Khởi nghĩa Bắc Sơn và nhà bia ghi dấu sự kiện, với tổng diện tích khuôn viên khoảng 120 m².
Giá trị lịch sử và công tác bảo tồn
Các tài liệu, hiện vật liên quan đến Khu di tích Khởi nghĩa Bắc Sơn hiện được lưu giữ, bảo quản và trưng bày tại Bảo tàng Bắc Sơn và Nhà trưng bày truyền thống Trường Vũ Lăng. Tổng số hiện vật là 138, trong đó có 127 hiện vật gốc và 11 hiện vật phục chế. Những hiện vật này góp phần làm rõ quá trình hình thành tổ chức Đảng, hoạt động của các cán bộ cách mạng, sự phát triển của lực lượng vũ trang và các sự kiện diễn ra trong thời kỳ Khởi nghĩa Bắc Sơn.
Khởi nghĩa Bắc Sơn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong lịch sử dân tộc Việt Nam, thể hiện tinh thần yêu nước, ý chí quật cường và sức mạnh đoàn kết của nhân dân các dân tộc Bắc Sơn. Cuộc khởi nghĩa là một dấu mốc quan trọng trong quá trình phát triển của phong trào cách mạng, góp phần chuẩn bị lực lượng, kinh nghiệm và địa bàn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc sau này.
Ngày nay, hệ thống di tích, các sự kiện lịch sử, lễ hội và phong tục tập quán của đồng bào gắn với Khu di tích Khởi nghĩa Bắc Sơn tạo thành nguồn di sản văn hóa vật thể và phi vật thể có giá trị. Việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị khu di tích không chỉ phục vụ công tác giáo dục truyền thống, lịch sử cách mạng mà còn góp phần phát triển du lịch văn hóa, nâng cao nhận thức cộng đồng và tạo thêm nguồn lực cho sự phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.
Với những giá trị đặc biệt tiêu biểu, Di tích lịch sử Khởi nghĩa Bắc Sơn, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn, được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 2499/QĐ-TTg ngày 22/12/2016.










