Di tích lịch sử Những địa điểm ghi dấu Phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh (1930 – 1931)

Phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh (1930–1931) là cao trào cách mạng lớn đầu tiên do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, diễn ra mạnh mẽ tại Nghệ An và Hà Tĩnh. Phong trào đánh dấu bước phát triển quan trọng của cách mạng Việt Nam, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng, sức mạnh của liên minh công nhân và nông dân cũng như khả năng tổ chức, tập hợp quần chúng.

Xô Viết Nghệ Tĩnh được xem là một cuộc tổng diễn tập quan trọng cho Cách mạng Tháng Tám năm 1945, để lại nhiều dấu ấn sâu sắc trong lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc.

Tại Nghệ An, những sự kiện tiêu biểu của phong trào được lưu dấu qua 09 di tích thành phần, trải rộng từ khu vực đô thị, đồng bằng đến miền núi.

Ngã ba Bến Thủy, địa điểm đấu tranh của công nhân và nông dân ngày 01/5/1930

Ngã ba Bến Thủy nằm bên tả ngạn Sông Lam, dưới chân núi Quyết, cách trung tâm Thành Vinh khoảng 5 km về phía Đông Nam, nơi gặp nhau của đoàn biểu tình và công nhân các nhà máy ở Bến Thủy ngày 1-5-1930, mở đầu cho cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh.

Thời Pháp thuộc, Ngã ba Bến Thủy thuộc làng Yên Dũng Hạ, tổng Yên Trường, huyện Hưng Nguyên. Nhân dịp kỷ niệm ngày Quốc tế lao động 1-5-1930, Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương phát động phong trào kỷ niệm ngày Quốc tế lao động lần đầu tiên ở Việt Nam. Xứ ủy Trung kỳ cùng các tỉnh bộ ở Nghệ -Tĩnh đã tích cực chuẩn bị thực hiện.

Mặc dù bị kẻ thù khủng bố, đàn áp dã man, các địa phương vẫn thực hiện đúng kế hoạch. Rạng sáng 1-5- 1930, ở Hà Tĩnh bên kia bờ Sông Lam, đối diện với Ngã ba Bến Thủy, cờ đỏ búa liềm phấp phới bay trên đỉnh Núi Cơm, huyện đường Nghi Xuân, cầu Đồ Trai (Đức Thọ), Rú Nầm (Hương Sơn), đình Chợ Chùa (Cẩm Trung, huyện Cẩm Xuyên), núi Bàn Đô (Kỳ Anh). Rất nhiều truyền đơn của Đảng rải ở Dị Long (Hương Khê), Lạc Thiện (Đức Thọ), tổng Lai Thạch, Phù Lưu (Can Lộc).

Cùng với nhiều nơi trong toàn quốc, sáng 1-5-1930, tại Vinh – Bến Thủy đã nổ ra cuộc biểu tình lớn của công nhân, nông dân nội, ngoại thành.

Cuộc biểu tình do đồng chí Lê Mao – Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường trực Xứ ủy Trung Kỳ, Bí thư Tỉnh bộ Vinh – Bến Thủy trực tiếp lãnh đạo.

Do được chuẩn bị chu đáo, sáng 1-5-1930, khoảng 1.200 nông dân các làng Yên Dũng, Lộc Đa, Đức Thịnh (trước thuộc huyện Hưng Nguyên, nay thành phố Vinh), Song Lộc, Tân Hợp, An Hậu, Đức Hậu (thuộc huyện Nghi Lộc) biểu tình kéo vào thành phố Vinh để phối hợp với công nhân các nhà máy đấu tranh đòi thực dân Pháp phải thực hiện các yêu sách: tăng lương, giảm sưu thuế, ngày làm 8 giờ.

Đoàn biểu tình dương cờ búa liềm, chăng biểu ngữ, hàng ngũ chỉnh tề, vừa đi vừa hô khẩu hiệu và đọc bài Quốc tế ca:
“Hỡi ai nô lệ trên đời
Hỡi ai cực khổ đồng thời đứng lên!
Bất bình này chịu sao yên
Phá cho tan nát một phen cho rồi”.
Tên tri phủ Hưng Nguyên cho lính đến chặn đoàn biểu tình tại Ngã ba Quán Lau. Đoàn biểu tình siết chặt hàng ngũ tiến lên, đến nhà máy sửa chữa xe lửa Trường Thi, rồi kéo xuống kết hợp với công nhân các nhà máy ở Bến Thủy.

Bà con huyện Nghi Xuân (Hà Tĩnh ) sát nhập cùng đoàn biểu tình. Nhân dân trong thành phố thấy đoàn biểu tình rất khí thế nên nhiều người cũng tham gia. Tại các nhà máy ở vùng Bến Thủy, bọn quan lại Nam Triều bắt lính cầm súng, cắm lưỡi lê canh gác không cho công nhân ra khỏi nhà máy. Nhưng công nhân vẫn bỏ việc tràn ra đường tham gia đoàn biểu tình.

Đồng chí Nguyễn Cảnh Bình (người làng Lộc Đa) chỉ huy đoàn biểu tình vẫy cờ búa liềm hô mọi người tiến lên. Lá cờ đỏ búa liềm của Đảng cắm 8 giờ đồng hồ trên cột đèn tại Ngã ba Bến Thủy, đã khích lệ hàng vạn quần chúng nhân dân. Đoàn biểu tình hô vang như sấm “Đả đảo bọn thực dân cướp nước”; “phải xóa bỏ thuế thân, thuế chợ, thuế đò…”.

Công sứ Pháp chở 10 xe ô tô lính đến chặn đoàn biểu tình ở Ngã ba Bến Thủy trước cổng nhà máy Diêm. Đồng chí Trần Cảnh Bình bị bắn chết. Đoàn biểu tình hô vang: “Đả đảo bọn giết người” . Bọn cảnh binh bắn chết thêm 6 người nữa và bắn bị thương 18 người, bắt đi 97 người.
Biểu tình công, nông Vinh – Bến Thủy ngày 1-5-1930 là mốc khởi đầu cho cao trào cách mạng 1930-1931 ở Nghệ Tĩnh, mở đầu cho hàng loạt cuộc đấu tranh sôi nổi của công, nông trong những tháng tiếp theo ở 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Mà đỉnh điểm là sáng 12-9 – 1930, khoảng 8.000 nông dân thuộc ba tổng: Phù Long, Thông Lạng (Hưng Nguyên) và Nam Kim (Nam Đàn) trang bị gậy gộc, giáo mác, dây thừng, giương cờ búa liềm kéo về ga Yên Xuân. Hành khách trên các đoàn tàu xuống cùng tham gia với đoàn biểu tình.

Chị Phia (Nguyễn Thị Quỳnh Nga) đứng lên diễn thuyết tố cáo bọn thực dân Pháp và Nam Triều. Tiếng hô khẩu hiệu vang dậy một vùng. Một toán lính dùng súng bắn đe dọa, nhưng đoàn biểu tình vẫn vững vàng hàng ngũ tiến về phủ Hưng Nguyên. Khi Đoàn biểu tình đến Thái Lão, địch cho máy bay đến bắn và thả bom vào đoàn làm 217 người chết, 125 người bị thương.

Đình Võ Liệt, trụ sở của Xô viết trong phong trào 1930–1931

Theo quốc lộ 46 qua cầu Rộ, rẽ phải 500 mét sẽ thấy Đình Võ Liệt nổi bật trên gò đất cao trên cánh đồng Rè. Đây là ngôi đình có sự chuyển hóa và tái hiện lại trung thực thế giới quan của người nông dân, là một trong 100 ngôi đình tiêu biểu của cả nước được giới thiệu trong tác phẩm nổi tiếng Đình Việt Nam của 2 tác giả Hà Văn Tấn, Nguyễn Văn Kự.

Đình Võ Liệt được khởi công xây dựng vào năm 1859, hoàn thành vào năm 1860. Người chủ trì thiết kế là nhà Nho Hoàng Chính Trực, đậu Cử nhân khoa Tân Dậu (1861). Đây là nơi tế lễ và hội họp của Hội Văn tổng Võ Liệt vào tháng 8 âm lịch. Xuất phát từ đó, đình còn có tên gọi Văn quán, quán Hàng Tổng.

Đình Võ Liệt có kiến trúc khá độc đáo trong hệ thống đình làng Việt Nam. Có hồ bán nguyệt, cổng, sân vườn và đình chính. Từ ngoài vào, cổng đình có kết cấu theo kiểu “tứ trụ” với 4 trụ cổng vững chãi tạo thành 1 cổng chính và 2 cổng phụ. Phía trước 2 bên sân đình xây dựng 2 dãy nhà bia, mỗi nhà có 3 tấm bia chất liệu bằng đá xanh nguyên khối ghi rõ họ và tên, địa chỉ của 445 người đỗ đạt khoa bảng của tổng Võ Liệt từ triều Lê đến triều Nguyễn, trong đó có 377 tú tài, 63 cử nhân, 2 tiến sĩ và 3 phó bảng. Đình có kiến trúc hình vuông hay còn gọi là kết cấu chữ “Khẩu”, đó là những ngôi nhà khép kín thông nhau, ở giữa có sân trời với 54 cột nối nhau thẳng hàng ngang, dọc và khép kín bằng ván lim khung đố. Dãy nhà phía trước 5 gian chính 2 gian phụ cao 5, 35m, chiều dài 16, 8m, liên kết với nhau bằng 6 bộ vì kèo. Nối liền tiếp theo là hai dãy nhà tả, hữu vu được xây dựng đăng đối tạo thành một con đường đi có mái che mỗi nhà 3 gian, 4 cột cao 4,3m. Nối tiếp tòa nhà chồng diêm tám mái gồm 5 gian chính, 2 gian phụ, cao 7m. Trên đỉnh nóc đình có hình nậm rượu, các đầu đao ở đình uốn cong mềm mại, trên các đầu dư là hình rồng cách điệu, rồng thể hiện khá tài tình, vừa mang chức năng trang trí, vừa là đầu cột chịu lực đỡ quá giang. Đầu rồng được chạm theo lối bong kênh, đây chính là nét kiến trúc độc đáo của đình Võ Liệt.

Đình Võ Liệt không chỉ là nơi sinh hoạt của Hội Văn tổng Võ Liệt mà còn địa chỉ quen thuộc của nhiều nhà nho hay chữ ở các nơi khác được Nhân dân mời về dạy học cho con em, trong đó có thân sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh là cụ Nguyễn Sinh Sắc và các nhà nho Phan Bội Châu, Đặng Nguyên Cẩn, Hồ Sĩ Tạo… Mặc dù hiện nay di vật thờ cúng của đình không còn gì nữa, nhưng theo các bậc cao niên kể lại, xưa kia đây là Văn Miếu của tổng, từ năm 1907 trở thành Văn Miếu của huyện nên có nhiều hiện vật quý, có thể kể đến là: 2 cờ đại, 6 cờ vuông, mâm cỗ bồng, bàn thờ Khổng Tử, trống, khánh đá, còn có cả chiêng đồng do Tiến sĩ Phan Sĩ Thục (1822-1891) năm 1872 đi sứ sang nhà Thanh về cung tiến.

Ngoài sự độc đáo về kiến trúc và ý nghĩa nhân văn ghi đấu ấn của sự học hành đậu đạt, đình Võ Liệt đồng thời là địa điểm gắn liền với nhiều sự kiện lịch sử tiêu biểu của dân tộc cũng như địa phương. Năm 1929, đình là nơi hội họp của Đảng Tân Việt huyện Thanh Chương. Ngày 01/6/1930, Nhân dân đã tập trung tại đình Võ Liệt, rồi kéo lên huyện đường đưa yêu sách. Ngày 01/9/1930, dưới sự lãnh đạo của Huyện ủy Thanh Chương, 2 vạn Nhân dân trong 5 tổng đã vượt sông Lam sang vây phá huyện đường, khiến tri huyện, nha lại hoảng sợ phải bỏ chạy lên đồn Thanh Quả. Trước sự tan rã của bộ máy hương hào ở địa phương, Chi bộ đảng đã họp ở đình Võ Liệt quyết định thành lập tổ chức Nông hội đỏ, đại diện cho quyền lợi của người lao động và công khai giải quyết mọi công việc như một chính quyền cách mạng. Đình Võ Liệt là một trong những địa điểm thành lập chính quyền Xô viết đầu tiên ở Nghệ Tĩnh, là trụ sở làm việc của chính quyền Xô viết…

Trong những năm 1940 – 1947, đình Võ Liệt là nơi diễn ra những cuộc họp thành lập, khôi phục lại Chi bộ đảng Võ Liệt (năm 1940), nơi tiến hành Đại hội đại biểu Khu ủy IV dưới sự chủ trì của các đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Hồ Tùng Mậu, Thiếu tướng Nguyễn Sơn và Đại hội Liên khu IV cũ (năm 1947)… Năm 1986 đình vinh dự được Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Phó Thủ tướng Chính phủ cùng phu nhân là Giáo sư Đặng Thị Bích Hà, con gái Nhà văn-Nhà Văn hoá Đặng thai Mai về thăm. Sau khi tham quan, đọc văn bia của di tích, Đại tưởng rất vui nói: “Đây là Văn miếu của huyện”. Ngày 26-1-2007, trong thư gửi Đảng bộ và nhân dân xã Võ Liệt, Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết: “Ở một xã, một huyện ít nơi có di tích lịch sử như ở đây. Tôi đã nói: Đây là văn miếu huyện rất đáng tự hào ở quê ta, các thế hệ con, cháu phải tiếp tục phát huy truyền thống hiếu học đó của ông cha ta”.

Nơi thực dân Pháp tàn sát cuộc đấu tranh ngày 12/9/1930 tại Hưng Nguyên

Di tích tại Hưng Nguyên ghi dấu cuộc thảm sát ngày 12/9/1930, khi thực dân Pháp dùng máy bay ném bom vào đoàn biểu tình của quần chúng nhân dân.

Khu di tích hiện có diện tích hơn 108.000 m², gồm khu tưởng niệm và khu tượng đài – phù điêu Xô Viết Nghệ Tĩnh.

Khu tưởng niệm có mộ chôn tập thể và nhà tưởng niệm được bố trí trong không gian trang nghiêm. Đây là nơi tưởng nhớ, tri ân những người đã hy sinh trong cuộc đấu tranh.

Mộ tập thể có hình tròn, mang ý nghĩa biểu tượng về sự đoàn kết và sức sống trường tồn. Nhà tưởng niệm là không gian linh thiêng dành cho việc tưởng niệm các liệt sĩ.

Khu tượng đài và phù điêu được xây dựng theo hình thức tượng nhóm, khắc họa hình ảnh các tầng lớp nhân dân đoàn kết dưới lá cờ đỏ búa liềm. Hệ thống phù điêu tái hiện nhiều giai đoạn của phong trào, từ đời sống trước cách mạng đến những cuộc đấu tranh và sự đàn áp khốc liệt của thực dân Pháp.

Toàn bộ khu di tích là một không gian tưởng niệm có giá trị lịch sử và nghệ thuật, góp phần thể hiện quy mô, sự khốc liệt và ý nghĩa của phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh.

Mộ các liệt sĩ Xô Viết Nghệ Tĩnh hy sinh ngày 07/11/1930 tại Diễn Châu

Tại Diễn Châu, di tích ghi dấu cuộc biểu tình lớn của nông dân và sự hy sinh của nhiều chiến sĩ cách mạng trong ngày 07/11/1930.

Khu di tích được quy hoạch theo trục Bắc – Nam, gồm cổng, đường vào, hồ nước, đài tưởng niệm, phù điêu và không gian cây xanh.

Đài tưởng niệm mang hình tượng ngọn đuốc cách mạng, kết hợp với bia ghi danh các liệt sĩ và dòng chữ “Tổ quốc ghi công”.

Phía sau đài tưởng niệm là bức phù điêu lớn tái hiện cuộc đấu tranh ngày 07/11/1930, từ khí thế xuống đường của quần chúng đến sự đàn áp của thực dân Pháp.

Không gian di tích là nơi tưởng niệm những người đã hy sinh, đồng thời giúp thế hệ hôm nay hiểu thêm về tinh thần đấu tranh của nhân dân Diễn Châu trong cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh.

Nơi xử bắn 72 chiến sĩ Xô Viết Nghệ Tĩnh tại Vân Tụ

Di tích Nơi xử bắn 72 chiến sĩ Xô Viết Nghệ Tĩnh tại Vân Tụ có diện tích gần 44.000 m², gồm cổng, tượng đài, nhà tưởng niệm, hồ nước và hệ thống cây xanh.

Tượng đài trung tâm là công trình điêu khắc giàu tính biểu cảm, thể hiện hình ảnh những chiến sĩ cách mạng trong thời khắc hy sinh và tinh thần tiếp nối cuộc đấu tranh.

Không gian tưởng niệm tại đây góp phần ghi nhớ sự hy sinh của 72 chiến sĩ Xô Viết Nghệ Tĩnh, đồng thời phản ánh sự khốc liệt của quá trình đàn áp phong trào cách mạng trong những năm 1930–1931.

Đình Tám Mái tại Quỳnh Phú

Đình Tám Mái là nơi hội họp, in ấn tài liệu truyền đơn, báo chí của Đảng và là địa điểm tập trung quần chúng đi biểu tình trong những năm 1930-1931.

Đình Tám Mái ở xã Quỳnh Thuận, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Từ thành phố Vinh theo Quốc lộ 1A đến thị trấn Cầu Giát rẽ phải 10km là đến di tích.

Quỳnh Thuận là xã đồng bằng ven biển, dân cư sống chủ yếu bằng nghề làm muối và đánh bắt hải sản. Cuộc sống rất vất vả nhưng nhân dân Quỳnh Thuận vẫn hiếu học, nhiều người đỗ đạt. Theo gia phả họ Hồ để lại, xã Quỳnh Thuận có 9 quận công lưu danh muôn thuở. Nổi bật nhất là quận công Hồ Văn Xu, một vị tướng có công diệt Mạc được phong làm Thượng trụ quận công. Con cháu của cụ là Hồ Văn Lực, Hồ Văn Hiếu, Hồ Văn Khoá, Hồ Tiến Bảng, Hồ Văn Thoa đều đỗ thi Hội và được bổ làm quan quận công.

Đình Tám Mái được xây dựng năm 1873, trùng tu năm 1908. Đình gồm 1 gian vuông hai tầng, có 4 cột, 8 mái, kiểu mái chùa. Toàn bộ đình làm bằng gỗ lim, mái lợp ngói âm dương. Kiến trúc của đình theo lối tứ trụ kẻ truyền, các hoa văn được chạm trổ tinh xảo. Đình có 8 đầu đao cong vút hình phượng bay. Trên nóc đình có 2 con rồng ngậm hạt ngọc chầu lại. Đình được xây kín xung quanh, lại nằm nép mình dưới những cây cao, tạo cho nó vẻ cổ kính linh thiêng.

Đình Tám Mái là trung tâm sinh hoạt văn hoá của làng xã. Hàng năm, vào ngày rằm tháng Giêng và tháng Tám, dân làng tổ chức tế lễ linh đình. Lễ hội kéo dài 3 ngày với các nghi lễ long trọng và nhiều trò chơi truyền thống như đánh đu, đấu vật, hát tuồng, hát phường đào…

Từ năm 1927, đình Tám Mái đã ghi nhận nhiều sự kiện lịch sử cách mạng của nhân dân Quỳnh Thuận. Tháng 7/1927, đồng chí Nguyễn Đức Mậu, giáo viên Trường Tiểu học Pháp Việt Quỳnh Lưu về dạy học ở Quỳnh Thuận. Đồng chí đã tuyên truyền vận động nhân dân đi theo cách mạng, chống lại bọn ác bá cường hào, thành lập tổ chức Tân Việt. Tháng 5/1930, chi bộ Đảng ở Quỳnh Thuận ra đời do đồng chí Đào Chí Thành là Bí thư.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, các tổ chức Nông hội đỏ, Tự vệ đỏ, Phụ nữ giải phóng được thành lập và hoạt động sôi nổi. Đình Tám Mái trở thành nơi hội họp, in ấn tài liệu truyền đơn, báo chí của Đảng và là địa điểm tập trung quần chúng đi biểu tình trong những năm 1930-1931.

Được sự nhất trí và chỉ đạo trực tiếp của Huyện uỷ, Chi bộ phát động cuộc đấu tranh lớn của nông dân và diêm dân. Cuộc biểu tình được chuẩn bị rất chu đáo trước đó một tuần. Hàng nghìn tờ truyền đơn kể tội ác của bọn Tây, nói lên nỗi thống khổ của người làm muối được in tại đình Tám Mái đã đến khắp các thôn xóm kêu gọi, vận động nhân dân đấu tranh đòi quyền lợi. Tối 19/6, Nông hội đỏ tổ chức treo cờ trên cây đa chợ đình để cổ vũ khí thế cách mạng.

Theo đúng kế hoạch, sáng ngày 20/6/1930, diêm dân Quỳnh Thuận mang theo vũ khí là những dụng cụ làm muối như: bầu, thêu, nạo… tập trung tại đình Tám Mái rồi cùng với đông đảo nhân dân các làng Quý Hoà, Thượng Yên, Thanh Sơn, Quỳnh Đôi, Hữu Nghĩa… kéo về chợ đình đấu tranh. Sau khi nghe đồng chí Hoàng Hữu Duyệt diễn thuyết, quần chúng giương cờ, căng biểu ngữ, diễu hành qua các làng hô vang khẩu hiệu đòi giảm sưu thuế, đòi quyền lợi cho Diêm dân. Đến trước đồn Thương Chính, đoàn biểu tình đưa yêu sách với nội dung:
– Không được xuýt chó cắn người
– Tự do đổ nước và cạo muối
– Phải được đưa ít muối về dùng
– Phải tăng giá muối lên 30%
– Không được đàn áp anh chị em biểu tình

Khí thế mạnh mẽ của quần chúng buộc tên đồn trưởng và chánh đoàn phải chấp nhận yêu sách. Đoàn biểu tình tiếp tục kéo xuống đồn Thanh Đàm, lính tráng hoảng sợ bỏ chạy, đồn trưởng vì không trốn kịp nên ngồi tái mặt. Y đứng dậy khúm núm hứa từ nay về sau không dám ức hiếp nhân dân làm muối nữa. Cuộc biểu tình kết thúc thắng lợi. Đây là cuộc đấu tranh đầu tiên của diêm dân, cũng là mở đầu cho nhân dân Quỳnh Lưu “đứng lên” trong phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh.

Kỷ niệm ngày chống chiến tranh đế quốc (1/8) và cách mạng Tháng Mười Nga năm 1930, Chi bộ Đảng Quỳnh Thuận tổ chức treo cờ ở đình Tám Mái, rải truyền đơn, tập trung nhân dân nghe diễn thuyết và diễu hành thị uy quanh xã nhằm củng cố tinh thần cho quần chúng.

Hưởng ứng chủ trương đấu tranh của Tỉnh uỷ, Huyện uỷ Quỳnh Lưu phát động cuộc biểu tình toàn huyện vào tháng 1/1931. 600 người tham gia biểu tình được chia thành 4 tổng kéo về huyện đường Quỳnh Bá. Trên đường đi, nhân dân đã đập phá nhà phó đoàn Phạm Quang Vị ở Sơn Hải. Sau cuộc biểu tình, các xã tiếp tục mít tinh, tuần hành trấn áp hương lý, cường hào. Bọn chúng như rắn mất đầu phải đem triện bạ, sổ sách nộp cho các Xã bộ nông. Như vậy, chính quyền Xô viết đã ra đời quản lý thôn xóm, thay thế cho bộ máy hào lý địa phương.

Chính quyền mới thực hiện việc xoá bỏ các thứ thuế vô lý do bọn đế quốc phong kiến đặt ra; tổ chức cho nhân dân lấy lúa của nhà giàu (Quỳnh Thuận đã thu được 2.040 kg thóc chia cho dân nghèo); bài trừ những hủ tục trong ma chay, cưới hỏi, đình đám; ban hành nếp sống mới trong thôn.

Đình Tám Mái là nơi học chữ quốc ngữ, hội họp, luyện tập quân sự… Nhân dân được sống trong bầu không khí tự do, thân ái. Thôn xóm ngày đêm nhộn nhịp, ai nấy đều say sưa công việc “xã hội”. Lần đầu tiên họ được làm chủ xã hội với lòng tin yêu sâu sắc vào Đảng và cách mạng.

Giữa tháng 2/1931, kẻ địch tiến hành đàn áp phong trào cách mạng Quỳnh Lưu. Hàng loạt đảng viên và quần chúng tích cực bị bắt giam. Cả 6 đồng chí đảng viên của Quỳnh Thuận mặc dù bị tra tấn rất dã man vẫn giữ trọn khí tiết. Sự hy sinh anh dũng của đồng chí Đào Chí Thành, tinh thần bất khuất của đồng chí Nguyễn Ngôn, Nguyễn Đức Nghinh… đã nêu gương sáng cho nhân dân Quỳnh Thuận tiếp tục vùng lên chống khủng bố trắng. Ngày 1/5/1931, cả xã đánh trống mõ, treo cờ, rải truyền đơn kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động.

Trong cách mạng tháng 8/1945, đình Tám Mái là địa điểm lực lượng tự vệ chuẩn bị cướp chính quyền. Năm 1964, nhân dân Quỳnh Thuận đã tập trung tại đình nghe Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói chuyện. Sau đó, Thủ tướng xuống thăm đồng muối của bà con. Đình Tám Mái là nơi diễn ra lễ tiễn đưa 124 con em Quỳnh Thuận lên đường nhập ngũ chống Mỹ cứu nước.

Đình Trung tại phường Trường Vinh

Đình Trung là một di tích tiêu biểu tại khu vực Trường Vinh, gắn với các hoạt động cách mạng trong cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh.

Di tích hiện gồm cổng, đại đình và nhà truyền thống. Không gian đình vừa giữ chức năng sinh hoạt văn hóa của cộng đồng, vừa là nơi lưu giữ những dấu ấn lịch sử về phong trào đấu tranh cách mạng tại địa phương.

Sự hiện diện của Đình Trung trong hệ thống các di tích Xô Viết Nghệ Tĩnh góp phần cho thấy phong trào cách mạng thời kỳ 1930–1931 đã gắn chặt với đời sống cộng đồng ở nhiều làng quê Nghệ An.

Đình Lương Sơn, nơi thành lập chính quyền Xô Viết Nghệ Tĩnh

Đình Lương Sơn, nay thuộc xã Đô Lương, tỉnh Nghệ An, là một trong những di tích lịch sử tiêu biểu gắn với sự hình thành và hoạt động của chính quyền Xô viết trong cao trào cách mạng 1930–1931.

Đình được xây dựng từ thời Hậu Lê, từng là nơi sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng và thờ Thành hoàng của làng. Với vị trí trung tâm và không gian rộng rãi, đình trở thành địa điểm thuận lợi để quần chúng tập hợp, hội họp và tổ chức các hoạt động cách mạng.

Trong phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, nơi đây diễn ra các cuộc mít tinh, biểu tình và các hoạt động liên quan đến chính quyền Xô viết ở cơ sở. Những vấn đề về tổ chức đời sống xã hội, sản xuất, đấu tranh chống sưu thuế và áp bức của thực dân, phong kiến được bàn bạc và triển khai.

Việc một ngôi đình truyền thống trở thành địa điểm hoạt động của chính quyền cách mạng phản ánh sự thay đổi sâu sắc trong đời sống chính trị – xã hội ở nông thôn Nghệ An thời kỳ này.

Về kiến trúc, đình Lương Sơn gồm các hạng mục chính như Nghi môn, Bái đình và Hậu đình, được bố trí theo trục truyền thống. Công trình mang đặc trưng kiến trúc dân gian Việt Nam với mái ngói âm dương, hệ thống khung gỗ liên kết bằng mộng và các chi tiết trang trí rồng, phượng.

Nhà cụ Vi Văn Khang, cơ sở cách mạng thời kỳ Xô Viết Nghệ Tĩnh năm 1931

Nhà cụ Vi Văn Khang, tại xã Môn Sơn, tỉnh Nghệ An, là một cơ sở cách mạng quan trọng trong năm 1931, khi phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh bước vào giai đoạn khó khăn và bị thực dân Pháp đàn áp gắt gao.

Đây là nơi che giấu, bảo vệ cán bộ cách mạng, đồng thời phục vụ hoạt động liên lạc, hội họp và xây dựng cơ sở quần chúng.

Ngôi nhà mang đặc trưng kiến trúc nhà sàn truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số miền núi Nghệ An, được dựng bằng các vật liệu địa phương như gỗ, tre, nứa và mái lợp lá. Kiến trúc đơn sơ, hài hòa với cảnh quan núi rừng, đồng thời có vị trí tương đối kín đáo, thuận lợi cho việc bảo đảm an toàn và giữ bí mật.

Trong năm 1931, nơi đây từng là điểm dừng chân, trú ẩn của các cán bộ cách mạng từ vùng đồng bằng lên hoạt động tại miền núi. Các chủ trương, đường lối cách mạng được truyền đạt, cơ sở quần chúng được xây dựng và mối liên hệ giữa phong trào ở miền xuôi với đồng bào các dân tộc miền núi được củng cố.

Vai trò của gia đình cụ Vi Văn Khang là một minh chứng cho tinh thần yêu nước, sự che chở và đóng góp của nhân dân Nghệ An đối với phong trào cách mạng trong những năm đầy khó khăn.

Giá trị lịch sử của hệ thống di tích Xô Viết Nghệ Tĩnh tại Nghệ An

Chín di tích thành phần không chỉ ghi lại những sự kiện tiêu biểu của phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh mà còn phản ánh nhiều khía cạnh của đời sống xã hội Nghệ An trong những năm 1930–1931.

Từ những cuộc biểu tình của công nhân, nông dân tại Bến Thủy, Hưng Nguyên, Diễn Châu đến hoạt động của chính quyền Xô viết tại các làng quê; từ những địa điểm đấu tranh, hy sinh đến những cơ sở bí mật che chở cán bộ cách mạng, mỗi di tích đều góp phần tạo nên một bức tranh lịch sử về cao trào cách mạng đầu tiên dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Với những giá trị lịch sử, văn hóa và nghệ thuật tiêu biểu, Địa điểm ghi dấu Phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh (1930–1931) tại Nghệ An đã được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt tại Quyết định số 1959/QĐ-TTg ngày 11/9/2025.

Hệ thống di tích là những địa chỉ quan trọng để nghiên cứu, giáo dục truyền thống cách mạng và giúp các thế hệ hôm nay có thêm cơ hội tìm hiểu về một giai đoạn đặc biệt trong lịch sử đấu tranh giành độc lập của dân tộc.

Liên hệ Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh

Địa chỉ: số 10, đường Đào Tấn, phường Thành Vinh, Nghệ An

Số điện thoại đăng ký tham quan: 0919817667

5/5 - (1 bình chọn)

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Fill out this field
Fill out this field
Vui lòng nhập địa chỉ email hợp lệ.
You need to agree with the terms to proceed

Liên hệ truyền thông 0938948549

1 result
Bạn sẽ quan tâm?:
Có thể bạn cũng quan tâm: