Đình Chèm

Đình Chèm, còn gọi là đình Thụy Phương, thuộc phường Đông Ngạc, thành phố Hà Nội. Di tích là nơi thờ Thượng đẳng Thiên vương Lý Ông Trọng, còn được biết đến với các tên gọi Lý Thân hoặc Đức Thánh Chèm, một nhân vật huyền thoại được cho là sống vào thời An Dương Vương.

Căn cứ vào tư liệu lịch sử, văn bia, hiện vật, đồ thờ và các mảng chạm khắc trên cấu kiện kiến trúc, đình Chèm hiện nay có nguồn gốc từ thời Lê Trung Hưng và đã trải qua nhiều lần tu bổ, tôn tạo. Một trong những lần sửa chữa lớn diễn ra vào năm Bính Thìn 1916, khi toàn bộ đình được nâng cao thêm khoảng 2,4 m.

Đình Chèm tọa lạc trên khu đất cao, diện tích khoảng 0,5 ha, quay hướng Bắc, nhìn ra sông Hồng. Vị trí này tạo nên không gian thoáng đãng, đồng thời thể hiện quan niệm dân gian về vị thần có khả năng trị thủy, bảo vệ cuộc sống bình yên cho cộng đồng cư dân ven sông.

Quần thể đình được bố cục theo kiểu “nội Công ngoại Quốc”, gồm Nghi môn ngoại, Nghi môn nội, Phương đình, hai tiểu phương đình làm nhà bia, Tả vu, Hữu vu, Đại bái, Ống muống và Hậu cung.

Hệ thống nghi môn và các công trình phụ trợ

Nghi môn ngoại được xây theo kiểu nghi môn trụ, mặt bằng hình vuông. Hai trụ giữa có kích thước lớn hơn hai trụ ngoài. Trên đỉnh các trụ trang trí hình chim phượng, bốn góc có hình rồng uốn lượn, thân trụ đắp hổ phù, lồng đèn giả và các hình tứ linh. Một số vị trí còn dấu vết gắn mảnh sứ hoa lam, đặc trưng của nghệ thuật trang trí thời Nguyễn.

Thân các trụ nghi môn có khắc câu đối chữ Hán ca ngợi công đức Đức Thánh Chèm. Dưới chân ba trụ còn lại những lan can đá xanh nhỏ chạm hoa văn rồng mây cách điệu. Chất liệu và phong cách chạm khắc cho thấy đây có thể là dấu tích của một nghi môn cổ hơn, có khả năng tồn tại từ khoảng thế kỷ XVIII.

Nghi môn nội có mặt bằng hình chữ nhật, gồm ba gian hai chái, nền cao hơn sân khoảng 1 m và được bó vỉa bằng đá xanh. Hai bên thềm gian giữa có lan can đá chạm rồng theo phong cách thời Nguyễn. Bộ khung gỗ gồm bốn bộ vì nóc, kết cấu theo kiểu “chồng rường giả giá chiêng”. Mái làm theo kiểu “tàu đao lá mái”, lợp ngói mũi hoặc ngói vẩy hến.

Trang trí tập trung ở bộ vì nóc và các đầu dư. Một số mảng chạm thể hiện hổ phù, rồng, mây và hoa lá. Cánh cửa gian giữa chạm nổi bốn con dơi xòe cánh, miệng ngậm đồng tiền tròn, biểu trưng cho chữ “Phúc”.

Phương đình có mặt bằng hình vuông, nền cao hơn sân khoảng 67 cm, được dựng lại năm 1989 trên nền công trình cũ. Đây là nơi thực hiện nghi lễ mộc dục, tức tắm rửa, làm sạch tượng Thánh và các tượng thờ trước khi diễn ra lễ hội. Kiến trúc Phương đình khá giản dị, với các đầu đao uốn cong, trang trí rồng, nghê và đôi rồng chầu mặt nguyệt.

Hai nhà bia nằm đối xứng hai bên Phương đình, có kết cấu nhà vuông bốn mái, bốn hàng cột xây bằng gạch Bát Tràng, xung quanh để thoáng. Mỗi nhà đặt một tấm bia cao khoảng 1,15 m, rộng 0,5 m và dày 0,1 m. Hai bia được Tiến sĩ Nghiêm Xuân Quảng soạn năm 1917, nội dung ca ngợi công đức Đức Thánh Chèm và ghi lại sự kiện nâng cao đình vào năm 1916.

Tả vu và Hữu vu là hai dãy nhà đối xứng, dùng để đặt đồ thờ và chuẩn bị lễ vật trong các dịp tế lễ. Mỗi dãy gồm 5 gian 2 chái, có 6 bộ vì, kết cấu bằng gỗ theo kiểu bốn hàng chân. Các cấu kiện liên kết gồm quá giang, xà nách, bẩy hiên và hệ thống giá chiêng.

Đại bái và nghệ thuật chạm khắc

Đại bái là một trong những công trình có giá trị nổi bật nhất của đình Chèm. Tòa nhà có mặt bằng hình chữ “Nhất”, phần mái tạo thành dạng “trùng thiềm điệp ốc”, gồm 5 gian 2 chái lớn, kích thước khoảng 20 m x 12 m. Nền Đại bái cao hơn sân khoảng 1 m, được bó vỉa bằng đá xanh và lát gạch Bát Tràng.

Bộ khung Đại bái gồm 6 bộ vì nóc, liên kết bằng hệ thống xà. Các vì ở gian giữa được làm theo kiểu “chồng rường giá chiêng” kết hợp “bẩy hiên”, trong khi các vì gian bên sử dụng kiểu “chồng rường, bẩy hiên”.

Điểm độc đáo của Đại bái là hệ thống khung kép. Công trình được hình thành từ hai bộ khung nhà nối liền nhau bằng hệ thống xà trung gian, tạo thành bộ mái gồm hai lớp khung và sáu mái. Đây là giải pháp kiến trúc đặc biệt, cho thấy trình độ xử lý không gian và kỹ thuật kết cấu của các nghệ nhân xưa.

Trên nóc Đại bái có các mảng đắp nổi hình mây, hai đầu nóc trang trí long mã gắn mảnh sứ. Các đầu kìm tạo hình đao cong, điểm xuyết hình nghê vờn mây, trên đỉnh đao là đầu rồng. Nghệ thuật trang trí tập trung dày đặc trên hệ thống đấu kê, đầu rường, cốn và các đầu bẩy.

Các đề tài chạm khắc khá phong phú, gồm rồng, phượng, chim, cá, rùa, long mã và những linh vật quen thuộc trong tư duy thẩm mỹ truyền thống Việt Nam. Trên bộ vì nóc, các đấu vuông, rường và cốn giả giá chiêng được chạm hình mặt rồng lớn, mắt tròn nổi cao, mũi sư tử, trán nhô, miệng ngậm chữ “Thọ”.

Ở các vì gian giữa xuất hiện nhiều đề tài đặc sắc như “ly phượng hàm thư”, “long mã đội quy bối”, rồng ẩn trong mây, rùa bơi trên sóng nước và các tổ hợp tứ linh. Một số mảng chạm thể hiện rồng phun nước, cá vượt Vũ Môn và rùa ngẩng đầu giữa dòng nước, tạo nên bố cục giàu tính biểu tượng.

Đặc biệt, nghệ thuật trang trí tại các cốn chồng rường giữa cột cái và cột quân thể hiện cách phân chia tứ linh khá độc đáo. Rồng và phượng được chạm ở mặt trong của cốn, còn lân và rùa được thể hiện trên các bẩy liên quan. Rồng có dạng cuốn thủy, dòng nước từ miệng rồng chảy qua đầu cột quân, kết hợp với hình cá và rùa, tạo thành một chỉnh thể vừa sinh động vừa mang ý nghĩa cầu mong mưa thuận gió hòa.

Các đầu dư của hai vì gian giữa được chạm đầu rồng theo phong cách nghệ thuật thời Nguyễn. Khác với nhiều di tích chỉ chạm đầu rồng trên mặt phẳng, tại đình Chèm, đầu dư được tạo hình nổi gần như tượng tròn, làm tăng chiều sâu và sự mạnh mẽ của tác phẩm.

Hậu cung và không gian thờ tự

Hậu cung đình Chèm gồm ba bộ phận kiến trúc tạo thành mặt bằng chữ “Công”: Cung đệ nhất, Cung đệ nhị hay Ống muống và Cung cấm. Cung đệ nhất và Cung cấm có mặt bằng hình chữ nhật, kích thước khoảng 14,2 m x 7,4 m, nằm song song và được nối với nhau bằng Ống muống.

Cung đệ nhất gồm 5 gian 2 chái, bộ khung gỗ có 6 bộ vì. Cung cấm có kết cấu và kích thước tương tự, là không gian thờ tự quan trọng nhất trong Hậu cung.

Ống muống vừa làm nhiệm vụ kết nối các cung, vừa là nơi đặt đồ thờ. Hệ thống khung gỗ tại đây được xử lý khéo léo, tận dụng các cột và vì giữa của Cung đệ nhất, Cung cấm để tạo thành bộ khung đỡ mái Ống muống. Cách liên kết này giúp toàn bộ Hậu cung hình thành bố cục chữ “Công” thống nhất, không bị chia cắt, đồng thời tạo ra nhiều lớp không gian thờ cúng.

Hậu cung hiện còn dòng lạc khoản ghi niên đại tu sửa vào năm Duy Tân thứ 10, tức năm 1916. Nghệ thuật trang trí tại đây đơn giản hơn Đại bái, chủ yếu là hoa lá, mây mác, lá và hoa cúc. Các đầu bẩy gian giữa chạm đầu rồng để mộc, trong khi các gian chái trang trí vân xoắn và mây cách điệu.

Bốn cánh cửa gỗ tại gian giữa Cung cấm được sơn son thếp vàng, trang trí các đề tài tứ linh. Trên Ống muống và Cung cấm còn có ba mảng trần thiết hình vuông, thể hiện các đề tài chữ Thọ, long phượng, bát quái và âm dương, góp phần làm tăng vẻ trang nghiêm cho không gian nội điện.

Đình Chèm là công trình có giá trị đặc biệt về lịch sử, kiến trúc và nghệ thuật chạm khắc gỗ. Di tích phản ánh sự phát triển của kiến trúc đình làng vùng đồng bằng Bắc Bộ, đồng thời lưu giữ nhiều lớp dấu ấn nghệ thuật từ thời Lê Trung Hưng đến thời Nguyễn. Hệ thống kết cấu khung kép ở Đại bái, bố cục Hậu cung chữ “Công” và các mảng chạm tứ linh độc đáo là những yếu tố làm nên nét riêng của đình Chèm.

Với những giá trị nổi bật, đình Chèm được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia đặc biệt tại Quyết định số 2028/QĐ-TTg ngày 25/12/2017.

5/5 - (1 bình chọn)

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Fill out this field
Fill out this field
Vui lòng nhập địa chỉ email hợp lệ.
You need to agree with the terms to proceed

Liên hệ truyền thông 0938948549

1 result
Bạn sẽ quan tâm?:
Có thể bạn cũng quan tâm: