Đình Trà Cổ

Đình Trà Cổ được kiến dựng từ thời Hậu Lê, đình là một công trình kiến trúc tín ngưỡng tiêu biểu của vùng Đông Bắc, đồng thời lưu giữ nhiều giá trị đặc sắc của văn hóa làng xã Việt Nam tại khu vực biên giới.

Không chỉ là nơi thờ Thành hoàng và các vị tiên công có công khai phá, lập làng, đình Trà Cổ còn là trung tâm sinh hoạt cộng đồng của cư dân địa phương. Qua nhiều thế kỷ, ngôi đình trở thành một dấu tích quan trọng trong lịch sử hình thành vùng đất Trà Cổ, nơi giao thoa giao thương Việt – Trung nhưng vẫn bảo lưu rõ nét bản sắc văn hóa Việt.

Lịch sử hình thành và truyền thuyết “Người Trà Cổ, tổ Đồ Sơn”

Theo hồ sơ khoa học của di tích, đình Trà Cổ được xây dựng vào thời Hậu Lê, năm 1461, gắn với quá trình hình thành và phát triển của cộng đồng cư dân trên vùng đất Trà Cổ.

Theo truyền thuyết được người dân địa phương lưu truyền, vào thời Hậu Lê, 12 gia đình ngư dân từ hai làng Cổ Trai và Trà Phương thuộc Đồ Sơn thường dong thuyền ra biển đánh bắt. Trong một chuyến đi, họ gặp bão lớn và bị sóng gió đẩy thuyền đến vùng đất hoang vu ven biển Trà Cổ. Sau đó, sáu gia đình quyết định trở về quê cũ, sáu gia đình còn lại ở lại khai phá vùng đất mới.

Từ những ngôi nhà đầu tiên, cộng đồng cư dân dần hình thành làng xóm, khai hoang, đánh bắt và phát triển nghề biển. Tên gọi Trà Cổ được truyền kể là ghép từ chữ “Trà” trong Trà Phương và chữ “Cổ” trong Cổ Trai, thể hiện nguồn gốc của những cư dân đầu tiên đến khai phá vùng đất này.

Từ đó hình thành câu truyền ngôn “Người Trà Cổ, tổ Đồ Sơn”, được lưu truyền qua nhiều thế hệ như một cách nhắc nhớ về nguồn gốc của cộng đồng cư dân Trà Cổ và công lao của những người đi trước.

Sau khi định cư, người dân dựng đình để thờ Thành hoàng, các vị thần bảo hộ và làm nơi sinh hoạt chung của cộng đồng. Theo truyền thống địa phương, đình Trà Cổ phối thờ các vị Không Lộ, Giác Hải, Nhân Minh, Huyền Quốc, Quảng Trạch cùng sáu vị tiên công được xem là những người có công khai phá, lập nên vùng đất Trà Cổ.

Trải qua nhiều biến động lịch sử, đình đã được tu bổ nhiều lần. Lần trùng tu gần đây được thực hiện vào năm 2012, trên cơ sở bảo tồn các giá trị kiến trúc và nghệ thuật truyền thống của công trình.

Kiến trúc đình Trà Cổ

Đình được dựng trên khu đất bằng phẳng, cao ráo ở trung tâm bán đảo Trà Cổ xưa, quay hướng Nam ghé Đông. Hiện nay, khuôn viên đình rộng khoảng 1.700m², gồm Nghi môn, tường bao, sân, Đại đình, Hậu cung, nhà thủ từ, am hóa sớ và các công trình phụ trợ.

Nghi môn

Nghi môn được xây bằng gạch và vữa vôi, gồm tứ trụ, bình phong và hệ thống cổng. Cổng chính rộng khoảng 3m, nằm trên trục kiến trúc cũng là đường Thần đạo dẫn vào đình.

Hai trụ hoa biểu cao khoảng 5,1m, mỗi trụ được chia thành ba phần. Phần đỉnh đặt hình đôi nghê hoặc lân đứng trên đấu vuông thót đáy; phía dưới là trụ lồng đèn, tiếp đến là thân trụ hình vuông kích thước khoảng 0,5 x 0,5m. Chân trụ tạo hình đấu vuông.

Hai trụ góc nối với tường bao phía sau, cao khoảng 3,45m, thân vuông 0,4 x 0,4m. Phần đỉnh được đắp hình búp sen. Giữa các trụ là những bức bình phong trang trí phù điêu voi và ngựa có yên cương.

Sau Nghi môn là sân đình rộng, lát gạch Bát màu đỏ, mỗi viên khoảng 30 x 30cm.

Đại đình

Qua sân là tòa Đại đình, liên kết với Hậu cung tạo thành mặt bằng hình chữ Đinh. Công trình có diện tích khoảng 316m², dài 28m, rộng 11,3m, gồm năm gian hai chái và hai dĩ.

Đại đình được dựng bằng hệ khung gỗ truyền thống với các cột, kèo, xà liên kết bằng mộng. Tường xung quanh chủ yếu bưng ván gỗ, mái lợp ngói mũi hài. Toàn bộ công trình được nâng đỡ bởi hệ thống cột gỗ lim kê trên chân tảng đá xanh và sa thạch.

Đặc biệt, Đại đình có sáu hàng chân cột, gồm 12 cột cái. Khoảng cách giữa hai cột cái trong một vì khoảng 4m; giữa cột cái và cột quân khoảng 2,34m; giữa cột quân và cột hiên khoảng 1,3m.

Cột cái có đường kính khoảng 50cm, cao 4,26m; cột quân đường kính khoảng 40cm, cao 3,05m; cột hiên đường kính khoảng 26cm, cao 1,86m. Các cột có tiết diện tròn, đặt trên chân tảng đá được chế tác thành hai cấp, phần dưới hình vuông làm đế và phần trên hình tròn tiếp xúc với chân cột.

Gian giữa rộng khoảng 4m, các gian bên rộng 3,65m và hai gian chái rộng khoảng 3,4m. Từ gian giữa ra hai đầu hồi, bước gian thu hẹp dần, tạo cảm giác không gian kiến trúc tập trung vào khu vực trung tâm.

Cửa chính gian giữa rộng khoảng 3m, gồm bốn cánh gỗ mở vào trong theo kiểu thượng song hạ bản. Ngưỡng cửa cao khoảng 38cm. Các gian bên có cửa sổ kiểu bức bàn, trong khi hai gian chái sử dụng chấn song để tăng khả năng lấy ánh sáng và thông gió.

Hệ thống vì kèo

Hệ thống vì nóc của Đại đình được kết cấu theo kiểu chồng rường. Câu đầu đặt trên hai cột cái thông qua các đấu vuông thót đáy lớn. Phía trên là các lớp rường suốt xếp chồng qua đấu kê, nâng đỡ các hoành mái và thượng lương.

Các vì nách ở năm gian chính cũng sử dụng kết cấu chồng rường. Các rường cánh liên kết với cột cái, lần lượt nâng đỡ các hoành mái. Phần rường xếp liền thành những cốn mê rộng, tạo nên bề mặt thuận lợi cho việc chạm khắc các đề tài trang trí.

Bốn vì nách hồi được biến đổi phù hợp với cấu trúc hồi, trong khi các vì góc sử dụng hệ thống kẻ. Phần hiên và hành lang sử dụng kiểu bẩy hiên, mỗi bẩy có chức năng nâng đỡ các khoảng hoành và tàu mái.

Nhìn tổng thể, hệ thống kết cấu của đình Trà Cổ thể hiện kỹ thuật dựng nhà gỗ truyền thống với sự liên kết chặt chẽ giữa cột, xà, rường, kẻ và bẩy. Các cấu kiện vừa đảm nhiệm chức năng chịu lực vừa trở thành không gian để các nghệ nhân thể hiện nghệ thuật chạm khắc.

Mái đình

Bộ mái chiếm khoảng hai phần ba chiều cao kiến trúc, tạo cho đình Trà Cổ dáng vẻ bề thế nhưng không nặng nề. Mái được làm theo dạng bốn mái, lợp ngói mũi hài, các đầu đao uốn cong mềm mại.

Chính giữa bờ nóc Đại đình là hình hổ phù đội mặt trời, được bổ sung trong giai đoạn thế kỷ XIX – XX. Hai bên là hình rồng chầu. Bờ nóc và bờ dải được trang trí bằng gạch hoa chanh.

Hai đầu bờ nóc là những con kìm nóc tạo hình long ngư, đầu rồng, thân và đuôi cá. Ở các góc mái, đầu đao cong vút với hình đầu rồng, hướng về phía con xô ở đầu bờ guột, tạo nên bố cục trang trí đăng đối.

Hệ thống sàn gỗ đặc biệt

Một trong những giá trị nổi bật của đình Trà Cổ là hệ thống sàn gỗ còn được bảo tồn trong Đại đình, Hậu cung và khu vực hiên.

Gian giữa của Đại đình không làm sàn gỗ mà để nền lát gạch, trong khi các gian và chái còn lại sử dụng sàn gỗ với nhiều cao độ khác nhau.

Sàn được chia thành ba cấp. Cấp thứ nhất cao hơn nền lòng đình khoảng 51cm; cấp thứ hai cao hơn cấp thứ nhất khoảng 13cm; cấp thứ ba cao hơn cấp thứ hai khoảng 16cm. Sàn còn được mở rộng ra khu vực hiên trước Đại đình.

Hậu cung cũng có sàn gỗ tại Cung cấm và không gian Ống muống. Sàn hiên không chỉ có chức năng ổn định chân cột hiên mà còn là nơi các hương lão, chức sắc trong làng ngồi theo dõi các hoạt động diễn xướng trong những dịp lễ hội.

Hệ thống sàn với nhiều cấp độ là một đặc điểm đáng chú ý trong tổ chức không gian đình Trà Cổ, đồng thời phản ánh trật tự sinh hoạt cộng đồng truyền thống của làng xã Việt Nam.

Nghệ thuật chạm khắc gỗ

Giá trị nghệ thuật nổi bật nhất của đình Trà Cổ tập trung trên các cấu kiện gỗ của Đại đình và Hậu cung. Những mảng chạm được thực hiện bằng nhiều kỹ thuật như chạm nổi, chạm kênh bong, chạm lộng và đục thủng, tạo nên những hình khối vừa khỏe khoắn vừa mềm mại.

Tại phần hiên phía trước Đại đình có tám đầu bẩy, trong đó sáu đầu bẩy được chạm khắc cả hai mặt. Các đầu bẩy được trang trí hình rồng với đường nét chắc khỏe, kết hợp cùng mây, hoa lá và các mô típ truyền thống.

Bên trong Đại đình nổi bật là năm bức y môn gỗ sơn son thếp vàng treo tại năm gian chính. Các y môn có bố cục tương đối thống nhất, phía trên là hình rồng chầu mặt trời hoặc mặt trăng, hai bên là rồng leo, bên dưới chia thành nhiều ô hộc để thể hiện các đề tài rồng, lân, hoa lá.

Các cốn mê ở vì nách là những mảng chạm lớn với nhiều đề tài như lưỡng long tranh châu, cửu long cuốn thủy, long mã phục hà đồ, trúc long, rồng cuốn nước, phượng múa, hổ rình mồi. Hình tượng được thể hiện bằng những đường chạm sâu, tạo độ nổi và chiều sâu rõ rệt.

Tám đầu dư của Đại đình cùng hai đầu dư phía trước Hậu cung được chạm lộng, đục thủng, tạo hình rồng với nhiều lớp chạm. Một số chi tiết được sơn son thếp vàng, làm tăng vẻ trang trọng của không gian thờ tự.

Những đề tài rồng, phượng, lân, hoa lá và cảnh tượng thiên nhiên không chỉ có giá trị trang trí mà còn phản ánh thế giới biểu tượng của nghệ thuật đình làng truyền thống.

Hậu cung và hệ thống đồ thờ

Hậu cung gồm hai không gian chính là Ống muống và Cung cấm. Cung cấm nằm ở phía trong cùng, là nơi thâm nghiêm nhất của đình.

Tại đây đặt một khám thờ lớn được chạm trổ công phu bằng các kỹ thuật chạm nổi, chạm lộng, trổ thủng và chạm thủy, với các hình tượng tứ linh, tứ quý trên nền sơn son thếp vàng.

Hai bên khám thờ đặt các ngai và bài vị của các vị Thành hoàng. Phía trước là án nhang bằng gỗ cùng nhiều đồ thờ bằng đồng như đỉnh hương, bát hương, hạc, chân nến và lọ đồng.

Đáng chú ý là đôi hạc gỗ đứng trên lưng rùa, được sơn son thếp vàng, mang phong cách nghệ thuật tạo hình thế kỷ XVIII. Hình tượng hạc và rùa thể hiện quan niệm hài hòa giữa trời và đất, giữa các yếu tố đối lập trong vũ trụ.

Bên cạnh khám thờ và đôi hạc chầu, đình còn lưu giữ nhiều hiện vật như bộ Bát bửu, ngai – bài vị, hoành phi, câu đối và đồ thờ bằng đồng.

12 đạo sắc phong thời Nguyễn

Đình Trà Cổ hiện còn lưu giữ 12 đạo sắc phong thời Nguyễn. Đạo sắc có niên đại sớm nhất là năm Tự Đức 33, tức năm 1880; muộn nhất là năm Khải Định 9, tức năm 1924.

Các đạo sắc được viết trên giấy Long Đằng màu vàng. Hai mặt giấy được trang trí bằng các đồ án rồng, mây, hồi văn chữ Vạn và các dạng hoa văn hình học, kết hợp phủ bạc hoặc thếp vàng.

Đây là nhóm tư liệu quan trọng góp phần làm rõ truyền thống thờ Thành hoàng và lịch sử tín ngưỡng của cộng đồng cư dân Trà Cổ qua thời Nguyễn.

Lễ hội đình Trà Cổ

Đình Trà Cổ là trung tâm của lễ hội truyền thống được tổ chức hằng năm từ ngày 30 tháng 5 đến ngày 3 tháng 6 âm lịch. Lễ hội gắn với tín ngưỡng Thành hoàng làng và ký ức về những người có công khai phá, lập nên cộng đồng Trà Cổ.

Một nét đặc sắc của lễ hội là nghi lễ rước thần trên biển, thể hiện rõ mối quan hệ giữa cộng đồng cư dân với môi trường biển và truyền thống của những người làm nghề đánh bắt.

Bên cạnh các nghi lễ, lễ hội còn có hội thi “Ông Voi”. Theo phong tục địa phương, 12 chú lợn được 12 ông đám đại diện cho 12 vị tiên công chăm sóc, nuôi dưỡng. Hoạt động này gắn với truyền thuyết về 12 gia đình ngư dân Đồ Sơn và sáu vị tiên công được xem là những người góp phần khai lập làng Trà Cổ.

Lễ hội vì vậy không chỉ mang ý nghĩa tín ngưỡng mà còn là dịp cộng đồng tưởng nhớ nguồn gốc, củng cố mối liên kết làng xã và gìn giữ những phong tục được truyền lại qua nhiều thế hệ.

Giá trị của đình Trà Cổ

Đình Trà Cổ là một công trình tiêu biểu của kiến trúc đình làng Việt Nam ở vùng Đông Bắc. Từ bố cục không gian, hệ thống khung gỗ, mái ngói, sàn gỗ cho đến nghệ thuật chạm khắc, đồ thờ và sắc phong, di tích thể hiện rõ sự tiếp nối của văn hóa làng xã đồng bằng Bắc Bộ trong một không gian biên giới.

Đặc biệt, trong bối cảnh Trà Cổ nằm ở vùng giao thương Việt – Trung, đình vẫn bảo lưu hệ thống tín ngưỡng, kiến trúc và nghệ thuật mang đậm bản sắc Việt. Đây cũng là nơi lưu giữ ký ức về quá trình khai phá, định cư và hình thành cộng đồng cư dân ven biển Đông Bắc.

Các hình tượng rồng, phượng, lân, hoa lá và những đề tài dân gian trên cấu kiện gỗ cho thấy trình độ cao của nghệ thuật chạm khắc truyền thống. Trong khi đó, hệ thống sàn gỗ nhiều cấp, kết cấu vì kèo chồng rường cùng các đồ thờ và sắc phong tạo nên một chỉnh thể di sản có giá trị về lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật và văn hóa.

Đình Trà Cổ cũng gắn với lễ hội truyền thống và đời sống cộng đồng của cư dân địa phương. Qua đó, di tích không chỉ là một công trình thờ tự mà còn là không gian bảo tồn ký ức cộng đồng và bản sắc văn hóa Việt tại vùng biên giới Đông Bắc.

Với những giá trị đặc biệt về lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật và văn hóa, di tích kiến trúc – nghệ thuật đình Trà Cổ được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt tại Quyết định số 1225/QĐ-TTg ngày 24/10/2023.

Ngày nay, đình Trà Cổ cùng chùa Nam Thọ, mũi Sa Vĩ, bãi biển Trà Cổ và các điểm di sản khác góp phần tạo thành không gian văn hóa – lịch sử đặc trưng của Móng Cái, trong đó đình Trà Cổ giữ vai trò quan trọng trong việc bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng cư dân nơi địa đầu Đông Bắc.

5/5 - (1 bình chọn)

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Fill out this field
Fill out this field
Vui lòng nhập địa chỉ email hợp lệ.
You need to agree with the terms to proceed

Liên hệ truyền thông 0938948549

1 result
Bạn sẽ quan tâm?:
Có thể bạn cũng quan tâm: