Hò Cần Thơ là loại hình trình diễn dân gian đặc trưng của vùng sông nước Tây Đô, hình thành và phát triển trong quá trình lao động, sản xuất, giao thương và sinh hoạt cộng đồng của cư dân Cần Thơ. Qua những câu hò mộc mạc mà giàu sức biểu cảm, người dân gửi gắm tình yêu quê hương, tình cảm đôi lứa, đạo lý ứng xử và cả những tâm tư trong cuộc sống thường ngày.
Với những giá trị tiêu biểu, Hò Cần Thơ được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 446/QĐ-BVHTTDL ngày 29/01/2019, thuộc loại hình Nghệ thuật trình diễn dân gian.
Hò Cần Thơ mang những đặc điểm chung của hò Nam Bộ nhưng đồng thời có sắc thái riêng về làn hơi, cách ngân, cách lấy giọng và phương thức ứng khẩu. Điệu hò từng vang lên trên đồng ruộng, trong vườn cây, trên những chuyến ghe thương hồ và dọc các dòng sông, kênh rạch của miền Hậu Giang.
Nhạc sĩ Lư Nhất Vũ từng nhận xét:
“Giọng hò Cần Thơ âm vang triền miên, bay bổng trải dài đã từng nổi tiếng là một đặc sản lâu đời chỉ có thể nảy sinh trong môi trường sông nước hữu tình, trên những cánh đồng mênh mông của miền đất Hậu Giang”.
Hò Cần Thơ hình thành từ đời sống miền sông nước
Hò Nam Bộ được hình thành trong quá trình kế thừa và sáng tạo từ những điệu hò của cư dân người Việt khi vào phương Nam khai phá. Khoảng từ thế kỷ XVII, trong hành trình từ vùng Ngũ Quảng vào Nam, những câu hò và điệu hát trở thành một phần hành trang tinh thần của lưu dân.
Khi định cư tại vùng đất mới, cư dân tiếp tục biến đổi lời ca, cách hát và làn điệu để thích nghi với môi trường đồng ruộng, sông rạch và miệt vườn. Từ đó, nhiều giọng hò mang đặc điểm địa phương lần lượt hình thành như hò Mỹ Tho, hò Cái Bè, hò Ngã Bảy, hò Đồng Tháp, hò Bến Tre và Hò Cần Thơ.
Cho đến nay chưa có tài liệu xác định chính xác thời điểm Hò Cần Thơ xuất hiện. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cho rằng loại hình này đã có lịch sử hơn một thế kỷ và gắn chặt với quá trình hình thành cộng đồng cư dân vùng Cần Thơ.
Nhà văn Sơn Nam là một trong những người dành nhiều sự quan tâm cho hò Nam Bộ và Hò Cần Thơ. Trong các công trình như Tìm hiểu đất Hậu Giang, Văn minh miệt vườn và Nói về miền Nam, ông cho rằng sự phát triển của kinh xáng, giao thương và đời sống miệt vườn đã tạo điều kiện để những cuộc hò đối đáp phát triển.
Đặc biệt, ông nhắc đến những thầy dạy hò từng có uy tín ở vùng Hậu Giang. Họ thường là những người có khả năng ứng khẩu, thuộc nhiều câu ca dao và biết cách “bẻ câu hát”, tức uốn nắn những câu hát có sẵn để phù hợp với hoàn cảnh mới.
Sơn Nam từng đưa ra một ví dụ:
“Chiếu bông mà trải góc đền
Muốn vô làm bé biết bền hay không?”
Khi đưa vào không gian kinh xáng, câu hát được “bẻ” thành:
“Nước xuôi chạy gió buồm mềm
Muốn vô làm bé biết bền hay không?”
Cách biến đổi ấy cho thấy sức sáng tạo của người hò. Những câu ca dao quen thuộc không bị giữ nguyên một cách máy móc mà được điều chỉnh để phù hợp với cảnh vật, nghề nghiệp và đời sống của cộng đồng.
Trong Hương rừng Cà Mau, truyện “Con Bảy đưa đò” của Sơn Nam cũng gợi lại không gian hò hát của miền Tây. Nhân vật cô Bảy, một người chèo đò ở Ba Láng – Cái Răng, nổi tiếng với giọng hò và những câu hò đối đáp. Cô giải thích về hò bánh bò, một lối hò được cho là bắt nguồn từ tiếng rao bán bánh bò trên sông:
“Đó là điệu ‘Hò Bánh bò’ bắt chước giọng rao bán bánh bò trên sông. Ở đây sông rộng, nhà cửa, ghe xuồng thưa thớt. Mình phải có giọng vừa cao vừa dài, che lấp hết, để cho ai nấy nghe được mình.”
Từ tiếng rao:
“Ai bánh bò không…”
dần biến thành:
“Bánh bò hông, bánh bò hơ…ơ…”
Theo Sơn Nam, đây là một trong những nguồn gốc tạo nên một lối hò đặc biệt ở Cần Thơ, bên cạnh hò Thới Lai.

Những làn điệu chính của Hò Cần Thơ
Theo nhạc sĩ Lư Nhất Vũ và nhiều nhà nghiên cứu, Hò Cần Thơ có ba làn điệu tiêu biểu là hò huê tình, hò cấy và hò mái dài. Mỗi điệu gắn với một không gian, cách diễn xướng và sắc thái tình cảm khác nhau.
Hò huê tình thường mang tính trữ tình, giao duyên. Người hò có thể hò một mình hoặc đối đáp nam nữ. Lời hò thường bình dị, dễ nhớ, nhưng người hò có thể tùy hoàn cảnh mà biến đổi, thêm bớt hoặc ứng khẩu.
Một câu hò huê tình được ghi lại từ bà Nguyễn Thị Phiến, ở Thạnh An, Thốt Nốt:
“Hò ơ ớ… Ngó lên nhà thức ngủ bớ nhà.
Giựt cái nống chống cái cửa thổi bếp lửa đốt cái đèn quơ nồi dọn dẹp à…Hò ơ ớ ơ… mà chị em mình tới đây…”
Một câu khác:
“Hò ớ… Tôi con của thầy Ba Đại, ở tại Thới Lai
Tôi đi tới đây chẳng dám khoe tài
Làm thinh cũng ngặt ừ… hò ớ…
Làm thinh cũng ngặt mà chị nài tôi
phải dưng…”
Hò huê tình thường có sắc thái man mác, không quá vui nhưng cũng không buồn ủ ê. Đây là nơi người hò thể hiện sự tinh tế trong giao tiếp, tình cảm và khả năng ứng khẩu.
Hò cấy gắn trực tiếp với hoạt động lao động trên đồng ruộng. Những người đi cấy có thể vừa làm việc vừa hò đối đáp, thi tài về lời ca và làn hơi. Cuộc hò thường bắt đầu bằng những câu chào hỏi, xưng danh, mời hò, sau đó chuyển sang đối đáp, giao duyên, trêu ghẹo hoặc thử tài ứng khẩu rồi kết thúc bằng lời giã biệt, hẹn mùa cấy sau.
Một câu hò cấy tiêu biểu:
“Hò ơ… Em ơi anh cầm chài ơ…
Anh vãi năm bảy con cá lòng tong
Thương em nát gan nát ruột lại nát tấm… ờ… lòng… ơ…Hò ơ ơ… thấy em ở bạc… ơ…
mà trong lòng… ơ… anh hết… ơ… thương…”
Hò cấy thường có tiết tấu linh hoạt hơn, gắn với nhịp lao động. Những người hò phải nhanh trí, biết bắt vần và ứng đáp với người đối diện.
Hò mái dài, còn gọi là hò mái trường, đặc biệt gắn với không gian sông nước. Đây là lối hò kéo dài phần kể, câu hò nhiều hơn và được nối tiếp liên tục. Người hò phải có làn hơi tốt, biết lấy hơi, ngân hơi và phân chia câu chữ hợp lý.
Câu hò mái dài của ông Đỗ Văn Chu, ở Tân Lộc Tây, Thốt Nốt, được ghi lại:
“Ơ ớ ơ… đi vô gặp em bán trầu, đi ra gặp em bán mắm
mà thấy em đằm thắm trong dạ anh thương.Em ơi đi về thưa lại với song đường… ơ…
đưa ông mai dong đến nói… ì i…
hò ơ ơ ơ… đến nói mà cho… ơ… tường… ơ…
dạ anh… ì i…”
Một câu hò mái dài khác của bà Trần Thị Ba, ở Trung Nhứt, Thốt Nốt:
“Hò hờ ê… cây vông đồng không trồng mà nó mọc
Còn rễ cây vông đồng nằm dọc nằm ngang
Trái dưa gang sọc dài sọc vắn
Còn ngọn rau đắng trong trắng ngoài xanhAnh có thương em thì đừng dỗ mà đừng… ơ… dành… ơ…
Chờ nơi phụ mẫu định… ơ… ì i i…
phụ mẫu định mà… ơ…
Phụ mẫu…. ơ ờ… ơ… đành… ơ…
em sẽ ưng…. ơ ì i i…”
Làn hơi dài chính là một trong những đặc điểm tạo nên sức vang của Hò Cần Thơ. Trên những dòng sông rộng, người hò cần đưa giọng đi xa, vì vậy cách lấy hơi, ngân giọng và kéo dài câu hát trở thành một phần quan trọng của nghệ thuật trình diễn.
Không gian diễn xướng và những câu hò giao duyên
Hò Cần Thơ không bị giới hạn trong một sân khấu cố định. Điệu hò được sinh ra từ đời sống và có thể xuất hiện ở nhiều không gian khác nhau: trên đồng ruộng, trong vườn cây, tại các cuộc hò hội, hò thi, trong gia đình, trên ghe xuồng hoặc dọc theo các tuyến sông, kênh rạch.
Người dân có thể hò khi chèo ghe đi chợ, khi vận chuyển hàng hóa, đánh bắt cá, làm ruộng hoặc trong những lúc nghỉ ngơi. Với người lao động, câu hò giúp giảm bớt sự mệt nhọc, tạo không khí vui vẻ và kết nối những người cùng làm việc.
Trên sông nước, hò còn là phương tiện giao tiếp đặc biệt giữa những người xa lạ. Một câu hò cất lên có thể trở thành lời chào, lời mời, lời trêu ghẹo hoặc lời tìm bạn hò.
Chẳng hạn:
“Hò ơ tôi bước xuống 3 cầu,
cầu trơn cầu trợt, tôi bước xuống tàu
tàu lắc tàu nghiêng mở miệng kêu người nghĩa nọ
ở Phong Điền ra đây cho tôi thấy mặt
mà kẻo tình tôi nhớ lại với thương.”
Những câu hò như vậy vừa có tính ứng khẩu vừa thể hiện sự kín đáo, duyên dáng trong cách giao tiếp của cư dân miệt vườn.
Có khi câu hò là lời tâm tình:
“Hò ơ dế kêu dưới giạ đống rơm,
tôi xa mình thời một bữa mà tôi bưng chén cơm tôi khóc ròng.
Khoát màn loan chạy tuốt vô phòng,
tôi nghe mình có chỗ vậy tôi yên lòng tôi trở ra.”
Cũng có khi người hò dùng câu hát để trêu ghẹo hoặc chia sẻ với những người cùng đi trên sông:
“Chèo ghe đi bán cá dồ
Nước chảy ồ ồ chẳng thấy ai mua.”
Hoặc:
“Bớ chiếc ghe sau chèo mau anh đợi
Kẻo giông khói đèn, bờ bụi tối tăm.”
Những câu hò ấy cho thấy Hò Cần Thơ không chỉ là âm nhạc. Đó còn là một hình thức giao tiếp, một cách bộc lộ tình cảm và một phương thức tạo dựng sự gắn kết trong cộng đồng.
Giá trị nghệ thuật và sức sống của Hò Cần Thơ
Hò Cần Thơ có quan hệ mật thiết với ca dao. Người hò có thể sử dụng nguyên câu ca dao, biến đổi một phần câu chữ hoặc ứng khẩu hoàn toàn dựa trên hoàn cảnh cụ thể.
Điểm đặc biệt nằm ở cách lấy hơi, nhấn giọng, ngân dài và “bẻ” câu. Cùng một câu ca dao, khi đưa vào hò có thể được kéo dài, chia nhịp hoặc thay đổi cách phát âm để tạo nên một đường giai điệu mới.
Theo các nhà nghiên cứu, hò Cần Thơ thường dựa trên những thể thơ quen thuộc như lục bát, song thất lục bát và các dạng biến thể. Người hò không nhất thiết phải giữ nguyên cách ngắt nhịp của thơ mà có thể kéo dài hoặc ngắt hơi ở những vị trí khác nhau để tạo hiệu quả trình diễn.
Nhạc sĩ Lư Nhất Vũ đã dành nhiều công sức sưu tầm và ký âm Hò Cần Thơ từ những năm 1980. Trong Dân ca Hậu Giang, ông ghi nhận những nét riêng của hò vùng Hậu Giang so với các địa phương Nam Bộ khác.
Ông từng viết:
“Ngày xưa trên các sông rạch, kinh xáng giăng giăng chằng chịt, đã từng lanh lảnh giọng hò sông Hậu, giống hát huê tình Cần Thơ, giọng rao bánh bò của những người chèo ghe ngược xuôi theo con nước lớn ròng.”
Nghệ sĩ ưu tú, Thạc sĩ Huỳnh Khải cho rằng Hò Cần Thơ có sự dung hòa về ngôn ngữ, ngữ điệu và thang âm. Làn điệu không hoàn toàn mang màu sắc buồn của hơi Ai, cũng không thiên về sự tươi tắn, lả lơi của hơi Xuân, mà có sắc thái riêng, man mác và giàu tính trữ tình.
Chính sự phóng khoáng của không gian sông nước đã tạo nên một lối hò có độ mở lớn. Tiếng hò phải vượt qua khoảng cách giữa những chiếc ghe, từ bờ này sang bờ khác, vì vậy người hò giỏi thường sở hữu làn hơi dài và khả năng ngân giọng tốt.
Hò Cần Thơ cũng đi vào sân khấu cải lương và âm nhạc hiện đại. Điệu hò miền Hậu Giang từng được sử dụng làm chất liệu cho nhiều sáng tác, trong đó có ca khúc “Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người” của nhạc sĩ Trần Kiết Tường.
Giai điệu mở đầu:
“Hò ơ, hò ơ ơ ớ…
Tôi hát ngàn lời ca.
Bao la hơn những cánh đồng.
Mênh mông hơn mặt biển Đông.
Êm đềm hơn những dòng sông…”
mang âm hưởng của điệu hò quê hương Cần Thơ.
Hò Cần Thơ cũng gợi nhớ đến tuồng cải lương “Tiếng hò sông Hậu” của soạn giả Điêu Huyền, một tác phẩm gắn với hình ảnh sông nước và đời sống văn hóa miền Tây.
Từ những câu hò dân dã trên đồng ruộng, ghe thuyền và bến nước, điệu hò đã bước vào dân ca, cải lương và ca khúc, tiếp tục sống trong nhiều hình thức nghệ thuật khác nhau.
Bảo tồn và phát huy Hò Cần Thơ
Hơn một thế kỷ hình thành và phát triển, Hò Cần Thơ ngày nay không còn phổ biến trong đời sống lao động như trước. Những cuộc hò trên đồng ruộng, những chuyến ghe thương hồ và những đêm đối đáp trên sông đã thưa dần cùng với sự thay đổi của phương thức sản xuất và giao thông.
Tuy nhiên, di sản vẫn được lưu giữ thông qua các nghệ nhân, nhà nghiên cứu, hoạt động biểu diễn, sưu tầm, truyền dạy và những công trình nghiên cứu về dân ca Nam Bộ.
Nhạc sĩ Lư Nhất Vũ từng nhấn mạnh rằng di sản phi vật thể không nên chỉ được lưu giữ trong kho tư liệu mà cần được đưa trở lại đời sống thông qua biểu diễn, xuất bản, giảng dạy và các hoạt động văn hóa cộng đồng. Việc kế thừa cần đi cùng với sáng tạo, nhưng sự đổi mới không nên làm mất đi những đặc điểm cốt lõi của dân ca.
Đây cũng là vấn đề quan trọng đối với Hò Cần Thơ. Bảo tồn không đơn thuần là ghi âm hay ký âm những câu hò cổ mà còn phải tạo điều kiện để thế hệ trẻ tiếp cận, hiểu và thực hành loại hình nghệ thuật này.
Hò Cần Thơ có giá trị bởi nó phản ánh trực tiếp đời sống của cộng đồng. Trong đó có lao động, tình yêu, tình thân, đạo lý, cách ứng xử, kinh nghiệm sống và mối quan hệ giữa con người với môi trường sông nước.
Từ những cánh đồng, vườn cây đến bến sông, ghe thương hồ và chợ nổi, câu hò đã trở thành một phần ký ức văn hóa của đất Tây Đô.
Nhạc sĩ Lư Nhất Vũ từng mô tả:
“Giọng hò Cần Thơ âm vang triền miên, bay bổng trải dài…”
Có lẽ đó cũng là cách ngắn gọn nhất để nói về sức sống của một di sản được hình thành từ tiếng nói đời thường nhưng đã vượt khỏi phạm vi của một cuộc hò dân gian để trở thành dấu ấn văn hóa của vùng sông Hậu.
Về Cần Thơ, giữa không gian của bến Ninh Kiều, những dòng sông và chợ nổi Cái Răng, người ta vẫn có thể bắt gặp hình ảnh của một miền đất từng được nuôi dưỡng bởi những câu hát mộc mạc:
“Uống ngụm nước trong nhớ dòng sông Hậu
Ăn chén cơm đầy nhớ đất Cần Thơ”
Và câu ca quen thuộc:
“Cần Thơ gạo trắng nước trong
Ai đi đến đó lòng không muốn về.”
Thông tin di sản
Tên di sản: Hò Cần Thơ
Loại hình: Nghệ thuật trình diễn dân gian
Địa bàn: Thành phố Cần Thơ
Niên đại: Hình thành và lưu truyền trong đời sống cư dân vùng Cần Thơ từ hơn một thế kỷ qua
Làn điệu tiêu biểu: Hò huê tình, hò cấy, hò mái dài
Quyết định công nhận: Quyết định số 446/QĐ-BVHTTDL ngày 29/01/2019 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Giá trị tiêu biểu: Nghệ thuật hò dân gian, lời ca giao duyên, tri thức và tập quán sinh hoạt, lao động của cư dân vùng sông nước Cần Thơ.










