Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc là một trong những lễ hội truyền thống đặc sắc của vùng đồng bằng Bắc Bộ, gắn với tín ngưỡng thờ Phù Đổng Thiên Vương, tức Thánh Gióng, người anh hùng trong truyền thuyết đã đánh thắng giặc Ân và bảo vệ đất nước. Lễ hội không chỉ là dịp tưởng nhớ công đức của một vị anh hùng được nhân dân tôn kính mà còn là một không gian diễn xướng dân gian quy mô lớn, nơi các nghi lễ, đoàn rước, múa, hát, trò diễn và hội trận được cộng đồng trực tiếp thực hành, gìn giữ qua nhiều thế hệ.
Hội Gióng được tổ chức ở nhiều địa phương thuộc Hà Nội và khu vực lân cận, với các nghi thức có nhiều nét tương đồng. Trong đó, Hội Gióng ở đền Phù Đổng, xã Phù Đổng, Hà Nội được xem là nơi tưởng niệm Thánh Gióng tại vùng đất tương truyền là quê hương, nơi Ngài sinh ra; còn Hội Gióng ở đền Sóc, xã Phù Linh, Hà Nội gắn với nơi Thánh Gióng dừng chân cuối cùng trước khi bay về trời sau khi đánh tan giặc Ân. Hai lễ hội này được lấy làm trung tâm trong hồ sơ đề cử Hội Gióng với UNESCO.
Hội Gióng tưởng nhớ Phù Đổng Thiên Vương, nhân vật được nhân dân tôn là một trong Tứ bất tử của tín ngưỡng dân gian Việt Nam, cùng với Tản Viên Sơn Thánh, Chử Đồng Tử và Liễu Hạnh. Hình tượng Thánh Gióng thể hiện phẩm chất và hành động của người anh hùng chống ngoại xâm, đồng thời gắn với ước vọng bảo vệ mùa màng, cuộc sống bình yên và sự thịnh vượng của cộng đồng.
Theo tư liệu, cái lõi ban đầu của Hội Gióng mang yếu tố của lễ hội nông nghiệp. Đến thời Lý – Trần, lễ hội dần chuyển biến thành một hội trận mang tính biểu tượng, tái hiện cuộc chiến chống ngoại xâm từ khâu chuẩn bị vũ khí, lực lượng, lương thảo cho đến diễn biến trận đánh và mừng chiến thắng. Chính quá trình phát triển này đã tạo nên một lễ hội có tính cộng đồng cao, được người dân trực tiếp bồi đắp và thực hành qua nhiều thế hệ.
Hội Gióng ở đền Phù Đổng
Hội Gióng ở đền Phù Đổng được tổ chức tại xã Phù Đổng, Hà Nội, nơi theo truyền thuyết là quê hương của Thánh Gióng. Không gian diễn ra lễ hội trải dài khoảng 3 km, với các địa điểm quan trọng gồm đền Thượng, đền Mẫu, nơi thờ mẹ Gióng, và chùa Kiến Sơ. Hội còn được gọi là Hội trận, bởi phần quan trọng nhất của lễ hội là những trò diễn xướng tái hiện cuộc chiến đấu của Thánh Gióng chống giặc Ân. Riêng các nghi thức rước kiệu đã có sự tham gia của hơn 1.000 người dân và thiếu niên trong xã.
Theo truyền thống, lễ hội diễn ra từ mùng 6 đến mùng 12 tháng 4 âm lịch hằng năm, trong đó mùng 9 tháng 4 âm lịch là ngày chính hội. Mỗi ngày trong chuỗi lễ hội đều có một nội dung nghi lễ riêng, tạo thành một diễn trình tương đối hoàn chỉnh, từ chuẩn bị, xuất quân, giao chiến, chiến thắng, khao quân đến kiểm tra chiến trường và hạ hội.
Ngày mùng 6 tháng 4 âm lịch mở đầu bằng lễ rước nước. Đoàn người rước hai chum nước “thiêng” từ đền Thượng đến đền Mẫu rồi đặt lên bệ bên bờ giếng. Khoảng 80 quân phù giá đứng thành hai bên bậc xuống giếng. Người lấy nước kính cẩn múc từng gáo nước, chuyền qua nhiều người và đổ vào chum thông qua một lớp vải lọc. Nghi thức rước nước vừa mang tính thiêng liêng vừa phản ánh dấu ấn của nền văn hóa nông nghiệp, trong đó nguồn nước giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với đời sống cộng đồng.
Ngày mùng 7 tháng 4, buổi sáng diễn ra lễ rước cỗ chay, gồm cơm và cà, từ đền Mẫu về đền Thượng, kết hợp với múa Ải Lao. Đến buổi trưa là lễ rước khám đường, mang ý nghĩa tượng trưng cho việc thăm dò, kiểm tra đường đi trước khi tiến quân đến trận địa. Đây là một trong những chi tiết khiến Hội Gióng khác biệt với nhiều lễ hội truyền thống khác, bởi các hoạt động chuẩn bị cho chiến trận được tái hiện thành một hệ thống nghi lễ liên hoàn.
Ngày mùng 8 tháng 4 là thời điểm duyệt lại các hoạt động chuẩn bị cho ngày chính hội. Những người đứng đầu các giáp cùng những người có uy tín trong cộng đồng tiến hành kiểm tra lần cuối. Một nghi thức đáng chú ý là duyệt 28 nữ tướng, lựa chọn tướng nhất và tướng nhì của mỗi giáp.
Ngày mùng 9 tháng 4, ngày chính hội, là thời điểm diễn ra những nghi thức quan trọng nhất. Đây là ngày tái hiện chiến thắng của Thánh Gióng trước giặc Ân. Hội bắt đầu bằng cuộc rước cờ từ đền Mẫu đến đền Thượng. Khi đoàn rước về đến đền Thượng, đội quân của Gióng biểu diễn các động tác quân sự theo nhịp trống, chiêng. Phường múa Ải Lao tiếp tục trình diễn trò săn hổ và vây bắt hổ theo điệu múa hổ.
Sau đó, khi có tin trinh sát báo quân giặc Ân đang đóng ở Đống Đàm, đoàn quân Gióng tiến về trận địa trong tiếng chiêng trống và hiệu lệnh. Khi đến chiến trường, ba hồi trống được đánh lên, mọi người im lặng trong giây lát như một nghi thức tưởng nhớ Thánh Gióng. Tiếp đó, hiệu lệnh tiến công được phát ra, tướng tiên phong đáp lại bằng ba hồi trống. Cờ lệnh mở ra, tiếng chiêng trống và tiếng hò reo vang lên, bắt đầu màn diễn trận.
Cuộc chiến được thể hiện chủ yếu bằng điệu múa cờ lệnh. Khi điệu múa kết thúc, quân giặc được biểu tượng hóa bằng cảnh tan tác, tháo chạy. Sau chiến thắng ở Đống Đàm, đoàn quân trở về đền Thượng và tổ chức tiệc khao quân. Tuy nhiên, khi tiệc đang diễn ra, tin báo lại cho biết quân giặc đang vây ở Sòi Bia, quân Gióng tiếp tục tiến quân.
Tại Sòi Bia, trận chiến tiếp tục được tái hiện bằng múa cờ lệnh. Sau khi quân giặc đại bại, tướng giặc bị bắt và giải về đền Thượng. Tại đây diễn ra nghi thức múa chém tướng, sau đó làm lễ dâng thủ cấp giặc lên Thánh Gióng. Tiệc khao quân lại được tổ chức trong không khí mừng chiến thắng.
Ngày mùng 10 tháng 4 diễn ra lễ rước văn, duyệt quân và kiểm tra vũ khí, đồng thời làm lễ tạ ơn Thánh Gióng và tổ chức hội mừng thắng lợi, khao quân. Ngày 11 tháng 4 là lễ rửa hội, một hình thức rước nước về đền để rửa tự khí và vũ khí. Đến ngày 12 tháng 4, đoàn rước kiểm tra lại hai chiến trường, tượng trưng cho việc xem xét xem còn quân giặc nào sống sót hay không, sau đó cắm cờ báo hiệu chiến thắng. Buổi chiều diễn ra lễ báo tiệp với đất trời và lễ hạ hồi. Bốn nghệ nhân xuất sắc của phường Ải Lao múa hát bài Lạc thành, ca ngợi chiến công của quân dân thời Hùng Vương, khép lại lễ hội.
Như vậy, Hội Gióng đền Phù Đổng không chỉ tái hiện một trận đánh đơn lẻ mà mô phỏng gần như toàn bộ một cuộc hành quân: chuẩn bị lực lượng, rước nước, kiểm tra đường đi, duyệt tướng, xuất quân, chiến đấu, bắt tướng giặc, dâng thủ cấp, khao quân, kiểm tra chiến trường và báo tin chiến thắng. Chính cấu trúc này tạo nên tính chất “hội trận” rất riêng của lễ hội.
Hội Gióng ở đền Sóc
Nếu Phù Đổng được xem là nơi Thánh Gióng sinh ra thì núi Sóc là nơi gắn với thời khắc cuối cùng trong hành trình của Ngài ở chốn trần thế. Theo truyền thuyết, sau khi đánh tan giặc Ân, Thánh Gióng về núi Sóc, ngồi nghỉ và ngắm nhìn đất trời lần cuối. Ngài cởi áo chiến bào khoác lên cây trầm hương trên đỉnh núi Vệ Linh rồi cùng ngựa bay về trời. Tưởng nhớ vị anh hùng, nhân dân quanh núi Sóc lập đền thờ và hằng năm tổ chức lễ hội.
Hội Gióng đền Sóc được tổ chức tại Khu di tích đền Sóc, thuộc thôn Vệ Linh, xã Phù Linh, Hà Nội. Khu di tích gồm đền Hạ hay đền Trình, chùa Đại Bi, đền Mẫu, đền Thượng hay đền Sóc, tượng đài Thánh Gióng và nhà bia. Trong đó, đền Thượng là nơi thờ Thánh Gióng và là trung tâm của các nghi lễ trong lễ hội.

Lễ hội thường diễn ra từ mùng 6 đến mùng 8 tháng Giêng âm lịch. Công việc chuẩn bị được tiến hành từ trước ngày khai hội khoảng 2–3 tuần. Các thôn làng trong khu vực được phân công chuẩn bị những lễ vật và biểu tượng khác nhau, tạo thành một hệ thống đóng góp cộng đồng rất đặc trưng.
Theo truyền thống, thôn Vệ Linh rước giò hoa tre; thôn Dược Thượng rước voi; thôn Đan Tảo rước trầu cau; thôn Đức Hậu rước ngà voi; thôn Yên Sào rước cỏ voi; thôn Yên Tàng rước tướng. Ngoài ra còn có biểu tượng rước ngựa Gióng của thôn Phù Mã và rước cầu húc của thôn Xuân Dục. Các thôn làng được phân công cúng tiến lễ vật chuẩn bị phẩm vật từ giữa tháng Chạp và làm lễ tại đình làng vào ngày mùng 5 Tết.
Đêm mùng 5 tháng Giêng, lễ Mộc Dục, hay lễ tắm tượng, được tiến hành tại đền Thượng. Đây là nghi thức quan trọng trước ngày khai hội.
Tảng sáng mùng 6 tháng Giêng, sau ba hồi trống từ đền Thượng, đoàn rước giò hoa tre của thôn Vệ Linh tiến vào đền Thượng thực hiện nghi lễ dâng lễ. Hoa tre được làm bằng những thanh tre dài khoảng 50 cm, đường kính khoảng 1 cm, đầu tre được tuốt thành hình bông và nhuộm màu, tượng trưng cho roi ngựa của Thánh Gióng. Sau khi dâng tại đền Thượng, hoa tre được rước xuống đền Trình, tại đây diễn ra tục cướp lộc, với niềm tin rằng người nhận được hoa tre sẽ gặp may mắn trong năm.
Một nghi lễ đặc sắc khác của Hội Gióng đền Sóc là tục chém tướng của thôn Yên Tàng. Nghi lễ vừa có phần rước vừa diễn tả việc chém tướng giặc như một trận đánh nhỏ, tạo nên hình thức diễn xướng trực quan về chiến công của Thánh Gióng.
Trong những ngày diễn ra lễ hội, bên cạnh các nghi thức cúng tế còn có nhiều trò chơi dân gian và hoạt động cộng đồng. Đến chiều mùng 8 tháng Giêng, lễ hóa voi bên hồ Sóc được tổ chức và được xem là nghi thức kết thúc hội. Voi và ngựa là những hình tượng gắn liền với truyền thuyết về Thánh Gióng, vì vậy nghi thức hóa voi và ngựa mang ý nghĩa đặc biệt trong toàn bộ diễn trình lễ hội.
Hội Gióng và giá trị di sản văn hóa
Điểm nổi bật của Hội Gióng nằm ở chỗ đây không phải một chương trình sân khấu được dựng lên bởi đạo diễn và diễn viên chuyên nghiệp. Người dân địa phương chính là chủ thể của di sản, trực tiếp chuẩn bị lễ vật, tổ chức đoàn rước, lựa chọn nhân vật, thực hiện nghi lễ và tham gia các trò diễn. Theo lời một người dân địa phương được tư liệu ghi lại, Hội Gióng là một ngày hội của toàn dân, với sự tham gia của các thôn làng và được nhân dân tự duy trì, thực hành.
Các nghi lễ của Hội Gióng có thể được xem như một “bảo tàng sống” về tín ngưỡng dân gian và nghệ thuật trình diễn, bởi trong cùng một lễ hội có sự kết hợp của tín ngưỡng thờ anh hùng, yếu tố nông nghiệp, nghi lễ cầu may, các hình thức rước, múa, hát và diễn trận. Những lớp văn hóa ấy được bảo tồn không chỉ trong các công trình thờ tự mà quan trọng hơn là trong chính hoạt động thực hành của cộng đồng.
Ngày 31/8/2009, hồ sơ đề cử Hội Gióng là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại được hoàn thành và gửi tới trụ sở UNESCO tại Paris, Pháp. Năm 2010, Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Tư liệu về lễ hội ghi nhận đây là một “bảo tàng văn hóa của Việt Nam”, lưu giữ nhiều lớp văn hóa, tín ngưỡng.
Sự ghi danh này khẳng định giá trị của Hội Gióng không chỉ nằm ở câu chuyện truyền thuyết về Thánh Gióng mà còn ở cách cộng đồng gìn giữ ký ức lịch sử và văn hóa bằng chính nghi lễ của mình. Qua các đoàn rước, tiếng trống, lá cờ, điệu múa, hình tượng voi ngựa, các nhân vật tướng lĩnh và những màn diễn trận, câu chuyện về người anh hùng chống giặc được chuyển từ truyền thuyết thành một hình thức ký ức cộng đồng sống động.
Hội Gióng cũng là một biểu hiện rõ nét của tinh thần cộng đồng trong văn hóa Việt Nam. Mỗi thôn làng đảm nhận một phần công việc, mỗi người tham gia một vai trò, từ chuẩn bị lễ vật đến thực hiện nghi lễ. Vì thế, lễ hội không chỉ kể lại chiến công của Thánh Gióng mà còn tái hiện sức mạnh của cộng đồng khi cùng nhau chuẩn bị và bảo vệ quê hương.
Ngày nay, Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc tiếp tục là một điểm nhấn quan trọng trong đời sống văn hóa của Hà Nội, đồng thời là không gian để du khách tìm hiểu sâu hơn về tín ngưỡng dân gian, nghệ thuật trình diễn truyền thống và những lớp ký ức lịch sử được lưu giữ trong văn hóa Việt Nam.
Thông tin di sản
Tên di sản: Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc
Loại hình: Lễ hội truyền thống
Địa bàn: Thành phố Hà Nội
Hội Gióng đền Phù Đổng: Từ mùng 6 đến mùng 12 tháng 4 âm lịch; chính hội mùng 9 tháng 4 âm lịch
Hội Gióng đền Sóc: Từ mùng 6 đến mùng 8 tháng Giêng âm lịch
Địa điểm tiêu biểu: Đền Phù Đổng và Khu di tích đền Sóc
Giá trị nổi bật: Tín ngưỡng thờ Thánh Gióng, diễn xướng dân gian, hội trận, nghi lễ cộng đồng và các trò chơi dân gian
UNESCO: Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, ghi danh năm 2010
Quyết định liên quan: 5079/QĐ-BVHTTDL ngày 27/12/2012.










