Khu lăng mộ và đền thờ các vị vua triều Trần thuộc phủ Long Hưng xưa, toạ lạc tại thôn Tam Đường, xã Long Hưng, tỉnh Hưng Yên. Đây là vùng đất có vị thế địa lý, kinh tế, chính trị và văn hóa đặc biệt quan trọng trong lịch sử dân tộc, gắn với quá trình hình thành, phát triển của vương triều Trần, đồng thời là hậu phương vững chắc góp phần tạo điều kiện để nhà Trần thay thế nhà Lý, xây dựng và bảo vệ quốc gia Đại Việt.
Long Hưng vốn là quê hương, nơi phát tích và dựng nghiệp của họ Trần. Trong thời Trần, khu vực này không chỉ là nơi đặt tôn miếu, lăng tẩm của các vị vua đầu triều mà còn có hành cung Long Hưng, nơi các vua Trần thường trở về làm lễ bái yết tổ tiên. Quần thể di tích hiện nay gồm ba khu vực chính: khu lăng mộ, khu đền thờ và khu di tích khảo cổ học nhà Trần.
Khu lăng mộ các vua và hoàng tộc nhà Trần
Vùng đất Long Hưng được triều Trần đặc biệt coi trọng và phân phong cho các thân vương, bởi đây là quê hương của dòng họ đã gây dựng nên vương triều. Nơi đặt mộ tổ họ Trần tại hương Tinh Cương, nay thuộc khu vực Tam Đường, tiếp tục được lựa chọn làm nơi an nghỉ của các vị vua đầu triều và hoàng tộc nhà Trần.
Theo sử liệu, Thái tổ Trần Thừa được an táng tại Thọ Lăng; vua Trần Thái Tông an táng tại Chiêu Lăng; vua Trần Thánh Tông tại Dụ Lăng; vua Trần Nhân Tông tại Đức Lăng. Sau khi Trần Thái Tổ qua đời, hương Tinh Cương được đổi tên thành Thái Đường, trở thành khu lăng tẩm dành cho các vua và hoàng tộc nhà Trần.
Từ khoảng năm 1320, các vua và hoàng hậu nhà Trần sau khi qua đời chủ yếu được đưa về an táng tại khu vực An Sinh, thuộc Đông Triều, Quảng Ninh ngày nay. Năm 1381, vua Trần Phế Đế cho rước thần tượng các vua Trần về thờ tại An Sinh. Tuy nhiên, khu lăng mộ và đền thờ ở Thái Đường vẫn được triều đình và cộng đồng dân cư địa phương gìn giữ, tu bổ, xây dựng và mở rộng qua nhiều thời kỳ.

Trong Kiến văn tiểu lục, Lê Quý Đôn ghi nhận tại xã Thái Đường, huyện Ngự Thiên có bốn lăng của Thái Tổ, Thái Tông, Thánh Tông và Nhân Tông nhà Trần, cùng lăng của bốn vị hoàng hậu. Sách Đồng Khánh ngự lãm dư địa chí lược thời Nguyễn cũng mô tả miếu thờ các vua Trần ở xã Thái Đường quay hướng Nam, phía trước có ba gò được gọi là “ấn kiếm”, phía sau có bảy gò tạo thành thế “thất tinh”.
Trước năm 1945, khu vực Tam Đường vẫn còn nhiều dấu tích lăng mộ và đền thờ cổ. Phía trước đền, về hướng Nam, có ba ngôi mộ lớn được nhân dân gọi là Phần Trung, Phần Bụt và Phần Đa. Chếch về phía Tây, cách đê sông Hồng khoảng 500 m, có một ngôi mộ cổ gọi là Phần Cựu. Phía Đông Bắc đền có các địa danh Mả Tít, Vườn Màn, Bến Ngự và chùa Bến. Phía sau đền, về hướng Bắc, có bảy ngôi mộ tạo thành thế “tiền tam thai, hậu thất tinh”.
Khu “thất tinh” gồm các phần Ốc, Quang, Ổi, Lợn, Mao, Gà và Bà Già. Theo truyền thuyết địa phương, phần Ốc là nơi an táng Trần Hấp, phần Quang là lăng mộ Nguyên tổ Trần Lý; các phần còn lại là nơi chôn cất các hoàng hậu, công chúa đầu triều Trần. Sau năm 1945, do nhu cầu đất ở và đất sản xuất, Phần Cựu cùng nhiều phần mộ trong khu “thất tinh” đã bị san lấp hoặc lấy đất để phục vụ đời sống nhân dân.
Khu lăng mộ được bảo tồn hiện nay có tổng diện tích khoảng 38.221 m², gồm ba khu mộ được nhân dân gọi là Phần Đa, Phần Trung và Phần Bụt, tương ứng với Chiêu Lăng, Dụ Lăng và Đức Lăng, nơi yên nghỉ của các vua Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông. Trong khu vực còn có đền thờ Thượng hoàng Trần Thừa cùng các vua Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông.
Ba lăng mộ được tôn tạo vào năm 2004, có tường kè bằng gạch bao quanh theo hình các đường tròn đồng tâm. Mỗi khu mộ có đường kính khoảng 65 m và cao khoảng 1,2 m so với sân tế. Riêng phần mộ ở giữa có đường kính khoảng 55 m, chiều cao từ sân tế đến đỉnh mộ khoảng 7 m. Trên đỉnh mộ đặt chữ Trần bằng Hán tự “陳” trong một khung sắt hình chữ nhật, tạo dấu hiệu nhận diện trang nghiêm cho khu lăng tẩm.
Khu đền thờ các vua Trần
Trước đây, đền thờ các vua Trần có tên là “Trần đế miếu”, nằm tại vị trí đền Mẫu hiện nay. Công trình cũ gồm hai tòa kiến trúc bố cục theo kiểu chữ Nhị, trong đó tiền tế có bảy gian, hậu cung có năm gian. Bộ khung chủ yếu bằng gỗ, được chạm khắc cầu kỳ, thờ các vua Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, phối thờ Thượng hoàng Trần Thừa và các vị hoàng hậu đầu triều.

Do tác động của chiến tranh, thiên tai và những biến động lịch sử, đền thờ từng bị hư hỏng, đổ nát. Từ những năm 1990, với sự quan tâm của các cấp chính quyền và sự đóng góp của nhân dân địa phương, khu đền được phục dựng trên nền móng cũ. Hiện nay, khu đền gồm ba công trình chính bố trí theo hướng Nam, quay về phía khu lăng mộ: Đền Vua ở giữa, Đền Thánh ở phía Đông và Đền Mẫu ở phía Tây. Ba công trình có chung sân lễ hội, đường nghi lễ và cửa chính Ngọ Môn.
Đền Vua có diện tích khoảng 6.498 m², là nơi thờ ba vị vua đầu triều Trần gồm Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông. Đền đồng thời phối thờ Thượng hoàng Trần Thừa, các vị cao tổ và tằng tổ của nhà Trần là Trần Kinh, Trần Hấp, Trần Lý, cùng những nhân vật có công mở nghiệp nhà Trần là Trần Thị Dung và Trần Thủ Độ. Khu đền gồm cổng, sân tế, giếng Ngọc, cổng kết nối với Đền Thánh và Đền Mẫu, tiền tế, trung tế, hậu cung, hai tòa giải vũ và các công trình phụ trợ.
Đền Thánh có diện tích khoảng 6.011 m², được xây dựng theo dạng thức kiến trúc truyền thống, gồm cổng, sân tế, lầu chiêng, lầu trống, tiền tế, phương đình, trung tế, hậu cung và nhà giải vũ. Đây là nơi thờ Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn, Nguyên Từ Quốc mẫu cùng hai người con gái là Quyên Thanh Quận chúa và Đại Hoàng Công chúa. Việc thờ phụng tại Đền Thánh thể hiện sự tôn kính đối với vị danh tướng kiệt xuất có công lớn trong ba lần kháng chiến chống quân Nguyên – Mông thế kỷ XIII.
Đền Mẫu có diện tích khoảng 6.228 m², thờ các vị quốc mẫu và công chúa đầu triều Trần. Công trình gồm giếng Ngọc, bình phong, sân tế, nhà giải vũ, tiền tế, trung tế và hậu cung. Đền Mẫu góp phần phản ánh vai trò của các hoàng hậu, quốc mẫu và nữ nhân vật hoàng tộc trong quá trình hình thành, duy trì dòng dõi và sự nghiệp của vương triều Trần.
Khu di tích khảo cổ học và lễ hội truyền thống
Khu di tích khảo cổ học Tam Đường là bộ phận quan trọng trong quần thể di tích, cung cấp nhiều bằng chứng vật chất về sự tồn tại và phát triển của vùng đất Long Hưng qua các thời kỳ lịch sử. Tại đây, các nhà khảo cổ đã tiến hành nhiều đợt khai quật, đặc biệt trong khoảng thời gian từ năm 1979 đến năm 1990, qua đó phát hiện dấu tích kiến trúc và nhiều hiện vật có niên đại từ thời Lý đến thời Nguyễn, trong đó nổi bật là nhóm hiện vật thời Trần.
Kết quả khai quật cho thấy Tam Đường từng là nơi đặt tôn miếu, lăng mộ của các vua và hoàng hậu đầu triều Trần như sử sách đã ghi chép. Đồng thời, đây cũng là địa điểm tồn tại hành cung Long Hưng, nơi các vua Trần trở về trong những dịp tế lễ, bái yết tổ tiên. Những dấu tích khảo cổ góp phần khẳng định vai trò của Tam Đường không chỉ là quê hương phát tích của nhà Trần mà còn là trung tâm chính trị, nghi lễ và văn hóa quan trọng của vương triều trong nhiều thế kỷ.
Giá trị của di tích còn được thể hiện qua lễ hội truyền thống tổ chức hằng năm tại khu đền thờ các vua Trần, từ ngày 13 đến ngày 16 tháng Giêng âm lịch. Bên cạnh nghi thức rước nước, tế lễ và dâng hương tưởng niệm các vị vua, lễ hội còn có nhiều hoạt động dân gian như thi cỗ cá, vật cầu, đấu gậy, thả diều, chọi gà, nấu cơm cần và các trò diễn truyền thống khác.
Đặc biệt, lễ hội gắn với tục kết chạ giữa hai làng Tam Đường và Vân Đài, phản ánh mối quan hệ cộng đồng được hình thành và duy trì qua nhiều thế hệ. Các nghi lễ và trò hội vừa thể hiện lòng tri ân đối với tiền nhân, vừa góp phần củng cố sự gắn kết cộng đồng, bảo tồn phong tục địa phương và truyền dạy những giá trị văn hóa truyền thống cho thế hệ sau.
Với những giá trị nổi bật về lịch sử, văn hóa, khảo cổ học, kiến trúc và nghệ thuật, Khu lăng mộ và đền thờ các vị vua triều Trần tại huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đã được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 2408/QĐ-TTg ngày 31/12/2014. Di tích là địa chỉ quan trọng trong hệ thống di sản gắn với vương triều Trần, đồng thời là nơi giáo dục truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc và ý thức bảo tồn các giá trị lịch sử, văn hóa của quê hương Long Hưng.











