Đền Bạch Mã là một trong những di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu của vùng đất Thanh Chương, Nghệ An, gắn liền với cuộc đời và sự nghiệp của danh tướng Phan Đà, người đã có nhiều đóng góp trong cuộc kháng chiến chống quân Minh dưới ngọn cờ khởi nghĩa Lam Sơn. Không chỉ nổi tiếng bởi giá trị kiến trúc cổ kính và không gian linh thiêng, nơi đây còn lưu giữ một lễ hội truyền thống đặc sắc, phản ánh sâu sắc đạo lý uống nước nhớ nguồn, tinh thần thượng võ và sức mạnh cố kết cộng đồng của cư dân vùng ven sông Lam.
Đền Bạch Mã hiện thuộc thôn Tân Hà, xã Kim Bảng, tỉnh Nghệ An. Trước đây, di tích nằm trên địa bàn xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương. Từ lâu, đền đã được nhắc đến trong câu ca dân gian:
“Nhất Cờn, nhì Quả, tam Bạch Mã, tứ Chiêu Trưng.”
Câu truyền tụng này xếp Đền Bạch Mã vào nhóm những ngôi đền có quy mô, kiến trúc và mức độ linh thiêng nổi tiếng bậc nhất xứ Nghệ.
Đền Bạch Mã và danh tướng Phan Đà
Đền Bạch Mã được xây dựng vào khoảng thế kỷ XV để thờ Phan Đà, một vị tướng trẻ tài năng, dũng cảm và có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược. Phan Đà sinh ra tại vùng Chí Linh, huyện Thổ Du, nay thuộc khu vực thôn Khai Tiến, xã Kim Bảng, tỉnh Nghệ An. Ông xuất thân trong một gia đình làm nghề chài lưới ven sông Lam, lớn lên giữa thời kỳ đất nước bị quân Minh đô hộ.
Theo truyền thuyết và các tư liệu dân gian, Phan Đà từ nhỏ đã nổi tiếng thông minh, tuấn tú, có sức khỏe, giỏi võ nghệ, cung tên. Nhân dân trong vùng từng gọi ông là “kỳ đồng”. Khi giặc ngoại xâm gây cảnh lầm than, ông đã tập hợp trai tráng địa phương, tổ chức luyện tập võ nghệ, xây dựng lực lượng dân binh và tiến hành nhiều trận đánh, phục kích làm tiêu hao sinh lực quân địch.
Năm 1424, khi nghĩa quân Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo tiến vào Nghệ An, Phan Đà đem lực lượng của mình gia nhập nghĩa quân. Nhờ tài thao lược và lòng dũng cảm, ông được Lê Lợi tin tưởng trọng dụng, cùng tham gia nhiều trận chiến quan trọng như Trà Lân, Đỗ Gia, động Tiên Hoa và các trận đánh trên địa bàn Nghệ An.
Phan Đà thường mặc áo giáp trắng, cưỡi ngựa trắng và đi tiên phong trong các trận giao tranh. Hình ảnh ấy tạo nên danh xưng “Thần Bạch Mã”, về sau trở thành biểu tượng gắn liền với ngôi đền thờ ông.
Ông từng được giao trấn giữ thành Bình Ngô, thuộc khu vực Thanh Giang trước đây. Năm 1426, trong một trận chiến không cân sức tại bờ Bắc sông Lam, Phan Đà bị thương nặng. Trên đường được đưa về quê, ông hy sinh tại khu vực Công Trung, Lai Thành, nay thuộc thôn Trung Thành, xã Thanh Long, tỉnh Nghệ An. Theo truyền thuyết, thi hài ông được mối vùi lấp tại khu vực Mồ Cả. Nhân dân địa phương cho rằng sự hiển linh của vị tướng đã lập miếu thờ để tưởng nhớ và phụng thờ ông.
Sau khi lên ngôi, vua Lê Lợi đã truy phong Phan Đà là “Đại tướng quân”, đồng thời gia tặng danh hiệu “Đô Thiên Đại đế Bạch Mã Thượng đẳng Phúc thần”, cấp tiền của để xây dựng đền thờ và giao cho nhân dân địa phương chăm lo hương khói. Về sau, các triều đại phong kiến tiếp tục gia phong ông là “Thượng – Thượng – Thượng đẳng tối linh tôn thần”.
Đền Bạch Mã gồm năm tòa, có quy mô bề thế, kiến trúc uy nghi và nhiều mảng chạm khắc tinh tế. Công trình được tu bổ nhiều lần, đặc biệt dưới triều Nguyễn, nhưng vẫn bảo lưu được những nét kiến trúc truyền thống. Di tích được xếp hạng Di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia theo Quyết định số 226/QĐ-BT ngày 5/2/1994 của Bộ Văn hóa – Thông tin, nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
Đền cũng gắn với nhiều sự kiện lịch sử quan trọng. Năm Quang Thuận thứ 6, tức năm 1465, vua Lê Thánh Tông trên đường chinh phục phương Nam đã đến thăm và làm lễ tế tại đây. Năm Cảnh Hưng thứ 30, tức năm 1770, Quận công Bùi Thế Đạt cũng vào đền làm lễ trước khi xuất quân. Theo truyền tụng, sau những lần cầu đảo và tế lễ được cho là linh ứng, danh tiếng về sự linh thiêng của đền ngày càng lan rộng.
Trong phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh 1930–1931 và các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, khu vực Đền Bạch Mã tiếp tục là địa điểm gắn với nhiều hoạt động đấu tranh cách mạng của nhân dân địa phương.

Những nghi lễ đặc sắc trong Lễ hội Đền Bạch Mã
Lễ hội Đền Bạch Mã có lịch sử khoảng 500 năm, hình thành cùng với quá trình xây dựng và phụng thờ danh tướng Phan Đà. Trong xã hội phong kiến, lễ hội từng được xếp vào hàng “Điển lễ Quốc tế” hoặc “quốc tạo”, tức nghi lễ tế thần theo quy thức nhà nước, do quan lại triều đình hoặc người được triều đình ủy quyền làm chủ tế.
Trước đây, lễ hội từng được tổ chức vào ngày 13 tháng Sáu âm lịch, được xem là ngày húy của tướng Phan Đà, đồng thời gắn với lễ Kỳ phúc Lục Ngoạt. Trong giai đoạn từ khoảng năm 1945 đến năm 1994, do điều kiện lịch sử, lễ hội được tổ chức giản lược, chủ yếu duy trì nghi lễ tế lễ và trò vật cù truyền thống.
Sau khi Đền Bạch Mã được xếp hạng di tích quốc gia năm 1994, chính quyền và nhân dân địa phương từng bước khôi phục lễ hội với quy mô và nghi thức phong phú hơn. Hiện nay, lễ hội thường diễn ra từ ngày 8 đến ngày 10 tháng Hai âm lịch. Việc lựa chọn thời điểm này vừa tránh giai đoạn nắng nóng cao điểm ở miền Trung, vừa phù hợp với thời gian nông nhàn và quan niệm dân gian về mùa sinh sôi, phát triển của vạn vật.
Lễ khai quang, tẩy uế và thỉnh mời thần linh
Rạng sáng ngày 8 tháng Hai âm lịch, lễ hội bắt đầu bằng nghi thức khai quang, tẩy uế và mộc dục. Nước dùng trong nghi lễ được lấy tại khu vực hợp lưu của sông Rộ, sông Giăng và sông Lam, kết hợp với các loại lá thơm theo phong tục truyền thống.
Sau đó, Ban nghi lễ đến phần mộ của tướng Phan Đà tại khu vực xã Thanh Long để thực hiện nghi thức khai quang và thỉnh mời thần về dự hội. Đây là nghi lễ có ý nghĩa quan trọng trong toàn bộ diễn trình lễ hội, thể hiện sự kết nối giữa đền thờ, phần mộ và quê hương của vị tướng.
Chủ tế làm lễ kính mời Phan Đà về chứng giám, phù hộ cho thời tiết thuận hòa, đường sá thuận tiện, nhân dân và du khách về dự hội được bình an, may mắn. Tiếp đó, đoàn nghi lễ đến Phủ Ngoại tại thôn Khai Tiến để làm lễ tạ ơn thân sinh của tướng Phan Đà, thể hiện sự tri ân đối với công lao sinh thành, dưỡng dục người anh hùng.
Chiều ngày 9, nhân dân tổ chức rước bài vị Phan Đà từ Đền Bạch Mã về Phủ Ngoại để thực hiện nghi lễ kính cáo và thỉnh mời thân phụ, thân mẫu của thần về dự hội. Đoàn rước đi qua địa bàn hai xã Võ Liệt và Thanh Long, với bảy điểm nghinh đón tại các làng Tân Hà, Trường Yên, Trung Đức, Lam Giang, Khai Tiến, Liên Kỳ và Tiên Thanh.
Tại mỗi điểm nghinh đón, người dân chuẩn bị hương án, lễ vật, cỗ chay, cỗ mặn và cử các bậc cao niên mặc áo dài, khăn đóng truyền thống để đón đoàn rước. Đây vừa là nghi thức bái tạ, dâng hương, cầu phúc, vừa thể hiện lòng tôn kính của cộng đồng đối với vị thần được phụng thờ. Những điểm dừng chân này cũng giúp đoàn rước nghỉ ngơi, chỉnh đốn đội hình và tiếp thêm hương đăng cho hành trình.
Đội hình rước gồm hai kiệu lớn, trong đó có kiệu long đình và kiệu bành dùng để rước thần Phan Đà cùng các vị thần phối tế tại đền. Đi trước là kiệu lễ vật nhỏ do hai người khiêng, cùng đội hộ tống mang theo đồ tế khí, binh khí, gươm, đao. Đội phu kiệu được tuyển chọn kỹ lưỡng, phải là những người khỏe mạnh, có phẩm chất đạo đức tốt, gia đình nền nếp và được tập luyện trước ngày hội.
Khi đoàn rước về đến Phủ Ngoại, Ban nghi lễ tiến hành tế lễ thân phụ, thân mẫu của Phan Đà, kính mời các vị về dự hội. Sau đó, đoàn trở lại đền để thực hiện lễ yết cáo, báo cáo với các vị thần linh và kính thỉnh chư vị về chứng giám. Trong mâm lễ yết cáo thường có món cá sông rán, một đặc sản gắn với đời sống của cư dân ven sông Lam.
Ngày 10 tháng Hai là ngày diễn ra lễ Đại tế và lễ tạ. Đây là dịp nhân dân dâng lời cảm tạ thần linh, tổ tiên và các bậc tiền nhân đã phù hộ cho lễ hội diễn ra thuận lợi, đồng thời cầu mong cuộc sống bình an, mùa màng tươi tốt, gia súc gia cầm phát triển và cộng đồng thịnh vượng.
Trò vật cù và giá trị văn hóa của lễ hội
Bên cạnh hệ thống nghi lễ trang trọng, trò vật cù là hoạt động đặc sắc nhất của Lễ hội Đền Bạch Mã. Đây được xem là một tục hèm, tức trò diễn dân gian có tính chất thiêng, nhằm tái hiện một phần hành trạng và công tích của tướng Phan Đà trong quá trình tuyển mộ, huấn luyện binh lính chống quân Minh.
Theo truyền thuyết, khi cai quản vùng Thổ Du, Phan Đà đã tuyển chọn những trai tráng khỏe mạnh, nhanh nhẹn trong các làng để bổ sung lực lượng chiến đấu. Ông tổ chức các cuộc thi vật cù nhằm lựa chọn người có sức khỏe, sự linh hoạt, khả năng phối hợp và tinh thần đồng đội. Trò chơi vừa là hình thức tuyển binh, vừa giúp rèn luyện thể lực và ý chí cho dân binh.
Quả cù truyền thống được làm từ củ chuối hột lớn, đẽo thành hình tròn có đường kính khoảng 30 cm, nặng từ 5 đến 7 kg. Sau khi đẽo, quả cù được luộc qua nước sôi rồi phơi nắng để tăng độ dẻo, hạn chế nứt vỡ trong quá trình thi đấu.
Trước đây, hội Đền Bạch Mã có ba hình thức vật cù gồm cù gôn, cù đẩy và cù nước. Hiện nay, phổ biến nhất là vật cù gôn. Hai đầu sân được đào hai hố có kích thước khoảng 50 x 50 cm, phía trên cắm cờ hội. Mỗi trận thường kéo dài khoảng 15 phút, mỗi đội có bảy người tham gia. Người chơi phải tranh và đưa quả cù vào hố của đối phương, nhưng không được ôm hoặc vật trực tiếp đối thủ.
Một trận vật cù là sự kết hợp giữa sức mạnh, tốc độ, khả năng phán đoán và chiến thuật tập thể. Người chơi không chỉ cần khỏe mà còn phải biết phối hợp, hỗ trợ lẫn nhau và giữ kỷ luật trong đội hình. Theo quan niệm dân gian, đội cù giành chiến thắng sẽ mang lại may mắn cho làng mình trong năm mới. Phần thưởng thường mang tính tượng trưng, nhưng ý nghĩa tinh thần lại rất lớn, thể hiện ước vọng về mùa màng bội thu, chăn nuôi phát triển, người già trẻ nhỏ mạnh khỏe và cuộc sống yên vui.
Ngoài vật cù, lễ hội xưa còn có nhiều hoạt động như đánh trận giả, kéo co, chọi gà, đánh đu, cờ người, cờ thẻ, đấu võ và thi hát. Những hoạt động này tạo nên không khí vừa trang nghiêm vừa sôi nổi, thu hút đông đảo nhân dân, quan viên và du khách từ nhiều địa phương về tham dự.
Các nghi lễ trong lễ hội, từ lễ tế, dâng hương, rước kiệu đến cách bài trí không gian, trang phục đội tế, động tác hành lễ và trình tự cúng tế, đều mang dấu ấn mô phỏng nghi thức cung đình. Qua đó, lễ hội phản ánh sự giao thoa giữa tín ngưỡng dân gian, truyền thống thờ anh hùng dân tộc và nghi lễ nhà nước trong lịch sử.
Lễ hội Đền Bạch Mã không chỉ là dịp tưởng nhớ, tôn vinh danh tướng Phan Đà mà còn là không gian bảo lưu những phong tục, tập quán và sinh hoạt văn hóa truyền thống của cư dân vùng Thanh Chương. Lễ hội góp phần giáo dục thế hệ trẻ về truyền thống yêu nước, tinh thần chống ngoại xâm, lòng biết ơn đối với những người đã hy sinh vì quê hương, đất nước.
Trò vật cù, ngoài ý nghĩa tái hiện việc tuyển quân và rèn luyện binh sĩ, còn được nhìn nhận như một biểu tượng gắn với tín ngưỡng nông nghiệp lúa nước. Hình thức tranh cù, vận động quả cù và cầu mong mùa màng sinh sôi có thể liên hệ với những quan niệm dân gian về sức sống, sự phồn thực và ước vọng thịnh vượng.
Với những giá trị lịch sử, văn hóa, tín ngưỡng và nghệ thuật dân gian tiêu biểu, Lễ hội Đền Bạch Mã đã được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 2969/QĐ-BVHTTDL ngày 27/8/2019.
Thông tin di sản
- Tên di sản: Lễ hội Đền Bạch Mã
- Loại hình: Lễ hội truyền thống
- Địa điểm: Đền Bạch Mã, thôn Tân Hà, xã Kim Bảng, tỉnh Nghệ An
- Không gian tổ chức: Đền Bạch Mã, các tuyến đường rước qua các làng thuộc khu vực Võ Liệt và Thanh Long, cùng các điểm nghinh đón truyền thống
- Thời gian tổ chức: Từ ngày 8 đến ngày 10 tháng Hai âm lịch hằng năm
- Đối tượng thờ phụng: Danh tướng Phan Đà, tức Bạch Mã Thượng đẳng Phúc thần
- Di tích: Đền Bạch Mã, di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia
- Năm xếp hạng di tích: 1994
- Năm ghi danh di sản văn hóa phi vật thể quốc gia: 2019
- Giá trị tiêu biểu: Giá trị lịch sử, tín ngưỡng, nghi lễ truyền thống, nghệ thuật dân gian, tinh thần thượng võ và tính cố kết cộng đồng
- Quyết định ghi danh: Quyết định số 2969/QĐ-BVHTTDL ngày 27/8/2019










