Mộ Phạm Phú Thứ

Mộ Phạm Phú Thứ tọa lạc tại quê hương Đông Bàn, nay thuộc xã Gò Nổi, thành phố Đà Nẵng. Đây là nơi tưởng niệm một danh thần tiêu biểu dưới triều Nguyễn, người nổi tiếng bởi tài năng, khí tiết cương trực và tư tưởng canh tân đất nước. Không chỉ có giá trị lịch sử, khu lăng mộ còn là địa chỉ văn hóa, giáo dục truyền thống, góp phần lưu giữ những đóng góp của một trí thức lớn đối với quê hương và dân tộc.

Phạm Phú Thứ, danh thần có tư tưởng canh tân

Phạm Phú Thứ sinh ngày 24 tháng Chạp năm Canh Thìn, tức ngày 27/1/1821, tại xã Đông Bàn, tổng Đa Hòa Thượng, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn, dinh Quảng Nam, nay thuộc xã Gò Nổi, thành phố Đà Nẵng. Xuất thân trong một gia đình Nho học, ông sớm nổi tiếng thông minh, học giỏi và có chí hướng lớn.

Thuở nhỏ, ông có tên là Phạm Hào. Khi đi học, ông lấy tên Thứ, mang ý nghĩa rộng lượng. Sau khi ông đỗ đại khoa, vua đổi tên cho ông là Phạm Phú Thứ. Ông còn có hiệu Trúc Đường và biệt hiệu Giá Viên.

Năm 1842, khi mới 22 tuổi, Phạm Phú Thứ đỗ Giải nguyên kỳ thi Hương. Năm 1843, ông tiếp tục đỗ đầu kỳ thi Hội và đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân trong kỳ thi Đình dưới triều vua Thiệu Trị. Việc liên tiếp đạt thành tích cao trong các kỳ thi đã đưa ông trở thành một trong những sĩ tử tiêu biểu của đất Quảng trong lịch sử khoa bảng.

Sau khi đỗ đạt, ông được bổ nhiệm làm Tri phủ Lạng Giang, rồi lần lượt đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng, trong đó có Tổng đốc Hải An, Tổng trấn Hải Yên, Thương chính đại thần, Tham tri các bộ và Thượng thư bộ Hộ. Trong quá trình làm quan, ông thể hiện tinh thần trách nhiệm, sự cương trực và thái độ thẳng thắn trước những vấn đề của đất nước.

Năm 1850, Phạm Phú Thứ dâng sớ can gián vua Tự Đức, đề nghị nhà vua không nên xao lãng việc nước. Vì việc này, ông bị cách chức và điều đi làm lính trạm tại Thừa Thiên Huế một thời gian, trước khi được phục chức.

Chuyến đi phương Tây và khát vọng đổi mới đất nước

Năm 1863, Phạm Phú Thứ được cử làm Phó sứ trong phái bộ do Phan Thanh Giản làm Chánh sứ sang Pháp, với nhiệm vụ thương thuyết về việc chuộc lại ba tỉnh miền Đông Nam Bộ bị Pháp chiếm năm 1862. Trong thời gian công cán, ông còn có dịp đến thăm một số quốc gia châu Âu như Anh, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha.

Chuyến đi giúp ông có điều kiện quan sát những tiến bộ về khoa học, kỹ thuật và tổ chức xã hội ở phương Tây. Từ những trải nghiệm thực tế, ông nhận thấy rằng muốn đất nước thoát khỏi tình trạng lạc hậu, cần chủ động học hỏi và thực hiện cải cách.

Sau khi trở về nước, Phạm Phú Thứ trình lên vua Tự Đức và triều đình những tài liệu ghi chép trong chuyến đi, đồng thời kiến nghị thay đổi chính sách để tăng cường nội lực quốc gia. Tuy nhiên, phần lớn đề xuất canh tân của ông không được triều đình chấp thuận do sự bảo thủ của nhà vua và nhiều đại thần đương thời.

Năm 1865, ông được thăng Thượng thư bộ Hộ. Đến năm 1874, ông giữ chức Tổng đốc Hải Yên, đồng thời kiêm nhiệm công việc thương chính, tham gia thúc đẩy việc khai mở thương cảng Hải Phòng. Những hoạt động này cho thấy mối quan tâm của ông đối với kinh tế, thương mại và sự phát triển của đất nước.

Năm 1881, Phạm Phú Thứ xin về trí sĩ tại quê nhà. Trong thời gian này, ông biên soạn bộ Giá Viên thi tập gồm 26 quyển và tiếp tục vận dụng những kiến thức, kỹ thuật đã học hỏi được để cải tiến một số hoạt động tại địa phương. Ông qua đời năm 1882 do tuổi cao sức yếu. Sau khi mất, ông được triều đình truy tặng hàm Hiệp biện Đại học sĩ.

Kiến trúc và không gian khu lăng mộ

Khu lăng mộ Phạm Phú Thứ được chính quyền địa phương và con cháu dòng họ Phạm Phú tôn tạo tại quê nhà Đông Bàn. Theo tư liệu giới thiệu về di tích, toàn khu có diện tích khoảng 750 m², gồm hai khu vực liền kề là khu mộ Phạm Phú Thứ và Trúc Đường hoa viên.

Các hạng mục trong khuôn viên bao gồm tường rào, cổng, nhà bia, phần mộ, bia tiểu sử và không gian hoa viên. Cách bố trí tạo nên một quần thể tưởng niệm trang nghiêm, kết hợp giữa nơi an nghỉ của danh thần với không gian lưu giữ tư liệu và tôn vinh những giá trị tinh thần ông để lại.

Riêng khu mộ có diện tích khoảng 350 m², được xây dựng kiên cố và bề thế. Phía sau phần mộ là bức tường lớn khắc các thông tin về tiểu sử, tác phẩm và hành trạng của Phạm Phú Thứ.

Trên hai trụ biểu nhỏ của bức tường có khắc câu đối bằng chữ Hán, kèm phiên âm Quốc ngữ, trích từ điếu văn của vua Tự Đức khi ông qua đời năm 1882:

“Thị nam trung tối – Duy thiên hạ kỳ”

Câu đối được diễn giải với ý nghĩa ca ngợi ông là người ưu tú ở miền Trung và là bậc kỳ tài trong thiên hạ.

Hai trụ bên trong, gần bia đá, còn khắc hai câu thơ trích từ bài thơ Phạm Phú Thứ sáng tác trong chuyến đi sứ sang Pháp năm 1863:

“Tảo giao đông thổ kiêm trường kỷ
Pha-lý, Long-đơn vị túc hiền”

Hai câu thơ thể hiện khát vọng phát triển khoa học, kỹ thuật của phương Đông, đồng thời phản ánh tinh thần tự cường và tư tưởng canh tân mà ông theo đuổi.

Trúc Đường hoa viên và Nhà lưu niệm Phạm Phú Thứ

Bên cạnh khu lăng mộ là Trúc Đường hoa viên, được chính quyền địa phương và con cháu dòng họ Phạm Phú xây dựng trong đợt trùng tu năm 2007. Đây là không gian tưởng niệm, tôn vinh cuộc đời và tư tưởng của danh thần.

Tại hoa viên có một tấm bia đá, mặt trước chạm khắc chân dung Phạm Phú Thứ. Phía dưới chân dung là những lời hay ý đẹp trích từ bộ Giá Viên thi văn tập của ông. Mặt sau bia khắc tám câu thơ trong bài cảm đề Đốt nén hương lòng nhớ cụ Phạm Phú Thứ của nữ sĩ Mai Hương, sáng tác nhân Hội thảo Phạm Phú Thứ với tư tưởng canh tân tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 1994.

Những câu thơ nhắc lại hành trình làm quan, tinh thần yêu nước, khát vọng đổi mới và sự kiên định của ông trước những trở ngại trên con đường phụng sự đất nước.

Năm 2024, cùng với việc công nhận khu mộ là di tích quốc gia, địa phương và đại diện gia tộc cũng tổ chức khánh thành Nhà lưu niệm Phạm Phú Thứ. Công trình vừa là nơi thờ tự, vừa là không gian trưng bày hình ảnh, tư liệu về thân thế, sự nghiệp và các trước tác của Trúc Đường Phạm Phú Thứ.

Nhà lưu niệm cùng khu lăng mộ và các di tích trên địa bàn được định hướng khai thác phục vụ hoạt động tham quan, tìm hiểu lịch sử và giáo dục truyền thống cho các thế hệ sau.

Giá trị lịch sử và văn hóa của di tích

Phạm Phú Thứ là một trí thức lớn dưới triều Nguyễn, có đóng góp trên nhiều lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại. Ông được biết đến với tính cách cương trực, tinh thần trách nhiệm và tư duy đổi mới trong bối cảnh đất nước đứng trước nhiều thách thức.

Dù nhiều đề xuất cải cách không được triều đình đương thời chấp thuận, những nỗ lực của ông vẫn cho thấy tầm nhìn về vai trò của khoa học, kỹ thuật, thương mại và việc chủ động tiếp thu tri thức mới đối với sự phát triển quốc gia.

Khu lăng mộ và Nhà lưu niệm Phạm Phú Thứ vì thế không chỉ là nơi tưởng nhớ một danh thần mà còn góp phần giới thiệu những giá trị lịch sử, văn hóa và tư tưởng canh tân của ông. Di tích là địa chỉ có ý nghĩa đối với những người muốn tìm hiểu truyền thống hiếu học, tinh thần trọng thực tiễn và khát vọng phát triển đất nước của người xứ Quảng.

Năm 2024, Mộ Phạm Phú Thứ được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích quốc gia. Việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích góp phần gìn giữ di sản của danh nhân, đồng thời tạo thêm điểm đến văn hóa, giáo dục lịch sử tại thành phố Đà Nẵng.

Thông tin nhanh

Nội dung Thông tin
Tên di tích Mộ Phạm Phú Thứ
Nhân vật được tưởng niệm Phạm Phú Thứ (1821–1882)
Địa chỉ Xã Gò Nổi, thành phố Đà Nẵng
Quê quán của danh nhân Làng Đông Bàn, vùng đất Điện Bàn xưa
Các hạng mục tiêu biểu Khu lăng mộ, Trúc Đường hoa viên, Nhà lưu niệm Phạm Phú Thứ
Giá trị nổi bật Di tích tưởng niệm danh thần triều Nguyễn, nhà trí thức có tư tưởng canh tân
Xếp hạng di tích Di tích quốc gia
Năm xếp hạng 2024
5/5 - (1)
Di tích lịch sử quốc gia; Xã Gò Nổi
Lượt xem: 15

Liên hệ truyền thông 0938948549

1 result
Bạn sẽ quan tâm?:
Có thể bạn cũng quan tâm: