Quần thể di tích An Phụ – Kính Chủ – Nhẫm Dương

Động Kính Chủ, còn gọi là động Dương Nham, là một di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh nổi tiếng nằm tại vùng đất Dương Nham, phường Phạm Sư Mạnh, thành phố Hải Phòng. Di tích gắn liền với hệ thống núi đá vôi, hang động, công trình tôn giáo và hệ thống văn bia ma nhai có giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hóa, nghệ thuật và khảo cổ học.

Khu vực An Phụ gồm đền An Phụ, còn gọi là Đền Cao, và chùa Tường Vân, còn gọi là Chùa Cao, thuộc xã An Sinh. Khu vực Kính Chủ gồm động Kính Chủ nằm trong dãy núi đá vôi Dương Nham, thuộc xã Phạm Mệnh, trước đây còn được biết đến với các tên gọi Bồ Đà, Quán Châu, Thạch Môn và Dương Nham. Khu vực Nhẫm Dương gồm chùa Nhẫm Dương, tên chữ là Thánh Quang tự, thuộc xã Duy Tân, cùng hệ thống hang động và di chỉ khảo cổ học xung quanh.

Với những giá trị nổi bật về lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh và khảo cổ học, quần thể An Phụ – Kính Chủ – Nhẫm Dương được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt tại Quyết định số 2499/QĐ-TTg ngày 22 tháng 12 năm 2016.

Khu di tích An Phụ

Đền An Phụ, còn gọi là Đền Cao, nằm trên đỉnh cao nhất của dãy núi An Phụ. Theo truyền thuyết và tư liệu lịch sử, đền được xây dựng từ thời Trần, khoảng thế kỷ XIII, để thờ An Sinh Vương Trần Liễu, thân phụ của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn.

Từ một ngôi đền nhỏ ban đầu, di tích từng bước được mở rộng và tu bổ qua nhiều thời kỳ. Vào năm Nhâm Dần, bà Trương Thị Điểm, người làng Hà Tràng, nay thuộc xã Thăng Long, đã công đức xây dựng tòa đền Trung. Sau đó, ông bà Bá Phí, người thôn Phí Xá, tiếp tục công đức xây dựng tòa Tiền tế. Dưới thời Hoàng Định, khoảng năm 1600–1619, triều đình cấp công quỹ giao cho nhà sư Nam Nhạc tu bổ đền.

Đến năm Gia Long thứ 16, tức năm 1817, ông Nguyễn Văn Tài, giữ chức Hữu quân lệ úy, khâm sai Kinh Môn phủ, cho xây dựng thêm hai dãy giải vũ. Năm Quý Mão, tháng 2, đời vua Thành Thái thứ 15, tức năm 1903, di tích tiếp tục được trùng tu. Những thông tin về đợt tôn tạo này được ghi lại trong bia “Trùng tu An Phụ sơn bi ký”, trong đó có danh sách những người đóng góp công sức và tiền của cho việc xây dựng đền.

Trong khuôn viên đền An Phụ có chùa Tường Vân, còn gọi là Chùa Cao, thờ Phật theo truyền thống Đại thừa và thờ Phật Hoàng Trần Nhân Tông, vị tổ sáng lập thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Chùa được tu bổ nhiều lần, trong đó có đợt tu sửa dưới thời Hoàng Định và lần trùng tu ba gian nhà Mẫu vào năm Mậu Thìn, tức năm 1928.

Trong các cuộc kháng chiến, khu vực An Phụ giữ vị trí quan trọng. Thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, địa hình núi rừng hiểm trở nơi đây trở thành căn cứ hoạt động của lực lượng dân quân du kích địa phương. Từ căn cứ này, nhiều trận đánh được tổ chức, gây tổn thất cho quân địch.

Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, khu di tích tiếp tục được sử dụng làm căn cứ của bộ đội thông tin, địa điểm quan sát máy bay địch, nơi tiếp nhận và truyền đạt chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước đến nhân dân, đồng thời tiếp nhận thông tin từ tiền tuyến phục vụ công tác chỉ huy và chiến đấu.

Năm 1985, chính quyền và nhân dân địa phương tiến hành phục dựng khu di tích. Đến năm 2007, đền An Phụ và chùa Tường Vân được trùng tu trên quy mô lớn, từng bước trở thành địa điểm sinh hoạt tín ngưỡng, văn hóa và giáo dục truyền thống của cộng đồng.

Một điểm nhấn khác tại khu vực An Phụ là tượng đài Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, nằm thấp hơn đền An Phụ khoảng 50m và cách đền khoảng 300m về phía trước. Tượng được làm bằng đá, cao gần 13m, thể hiện hình tượng Trần Hưng Đạo trong tư thế một tay tì vào đốc gươm, tay cầm cuốn thư, ánh mắt hướng về vùng biên ải phía Đông Bắc của Tổ quốc.

Công trình được tỉnh Hải Dương xây dựng từ năm 1993, với Đại tướng Võ Nguyên Giáp đặt phiến đá đầu tiên. Khu vực tượng đài còn có bức phù điêu bằng đất nung dài 45m, cao 2,5m, gồm 265 viên ghép lại, mô tả cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông của quân dân Đại Việt. Tác phẩm do các nghệ nhân gốm sứ làng Cậy, huyện Bình Giang, tham gia chế tác.

Động Kính Chủ

Động Kính Chủ nằm trong dãy núi đá vôi Dương Nham, thuộc xã Phạm Mệnh. Đây là một trong những thắng cảnh nổi tiếng của vùng Đông Bắc, từng được xếp vào nhóm sáu động đẹp của trời Nam. Dãy núi Dương Nham có địa hình đá vôi dựng đứng, nhiều ngọn núi mang hình dáng mũi mác, tạo nên cảnh quan hùng vĩ và đặc sắc.

Từ chân núi đi lên qua hệ thống bậc đá là đến cửa động. Cửa động quay về hướng Nam, rộng khoảng 18,6m, cao 7,9m và sâu khoảng 7m, gồm ba hang chính. Trong động có nhiều ngách đá, thạch nhũ và không gian tự nhiên được con người cải tạo thành nơi thờ Phật từ lâu đời.

Theo tư liệu văn bia, chùa Dương Nham đã tồn tại từ thời Lý. Bia “Trùng tu Dương Nham tự bi ký”, do Vũ Cán soạn vào năm Đại Chính thứ 3, tức năm 1532, cho biết vua Lý Thần Tông từng đến thăm nơi này, còn vua Lê Thánh Tông cũng từng đến vãn cảnh và để lại thơ đề.

Động Kính Chủ từng là nơi lui tới của nhiều vua chúa, quan lại, danh nhân và văn sĩ trong các thời kỳ lịch sử. Những cảm xúc trước cảnh sắc núi sông đã được ghi lại trên hệ thống văn bia ma nhai tạc trực tiếp vào vách đá. Hiện nay, trong động còn 47 đơn vị văn bia, có niên đại từ thế kỷ XIV đến đầu thế kỷ XX, phản ánh sự phát triển của nghệ thuật thư pháp, điêu khắc và văn chương qua nhiều triều đại.

Trong số các tác giả có Phạm Sư Mạnh thời Trần, vua Lê Thánh Tông, Vũ Cán thời Mạc – Lê, Trương Quốc Dụng thời Nguyễn cùng nhiều văn nhân, quan lại khác. Đáng chú ý là dòng chữ “Vân Thạch thư thất”, nghĩa là “Nhà sách Vân Thạch”, gắn với nơi đọc sách, ngâm vịnh của Phạm Sư Mạnh.

Hệ thống văn bia tại động Kính Chủ trải dài qua nhiều thế kỷ. Thời Mạc còn lại các bia có niên đại 1529, 1532, 1581 và 1587. Thế kỷ XVII có các bia năm 1622, 1653, 1664 và 1676. Thế kỷ XVIII có bia năm 1710 và 1733. Thế kỷ XIX có các bia năm 1809, 1829, 1831 và 1862. Đầu thế kỷ XX tiếp tục xuất hiện nhiều văn bản bằng chữ Hán, chữ Nôm và chữ Quốc ngữ.

Những văn bia này không chỉ ghi lại cảm xúc của các danh nhân trước cảnh sắc Dương Nham mà còn phản ánh quá trình tu bổ chùa, tạc tượng, mua ruộng, cúng đất và duy trì hoạt động tín ngưỡng tại di tích.

Bên trong động có nhiều ban thờ và tượng thờ được bố trí trong các hang, ngách tự nhiên. Chính giữa động là ban thờ Phật với nhiều pho tượng, trong đó có tượng A Di Đà, Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu, Thích Ca sơ sinh và Tòa Cửu Long. Một số khu vực thờ vua Lý Thần Tông, Lý Chiêu Hoàng, Đức Thánh Hiền, Ban Cô, Thành Hoàng, Đức Ông và Đệ Tam Tổ Trúc Lâm Huyền Quang.

Trong thời kỳ cách mạng, động Kính Chủ và chùa Dương Nham từng là nơi cán bộ hoạt động trong vùng trú chân, được các nhà sư và nhân dân che chở, nuôi giấu. Năm 1950, quân Pháp chiếm đóng khu vực, phá hủy nhiều di vật quý và xây dựng các lô cốt trên đỉnh núi. Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, động được sử dụng cho mục đích quân sự. Năm 1967, bom Mỹ đã phá hủy hoàn toàn nhiều công trình kiến trúc phía trước cửa động.

Ngoài động Kính Chủ, khu vực Dương Nham còn có nhiều hang động và cảnh quan hấp dẫn như hang Vang, hang Luồn, hang Tiên Sư, hang Ngũ Nước cùng các miếu, am và điểm thờ tự nằm trên sườn núi. Từ các vị trí cao, du khách có thể quan sát không gian làng mạc, đồng ruộng và sông nước rộng lớn phía dưới.

Giá trị nổi bật nhất của động Kính Chủ là sự kết hợp giữa cảnh quan núi đá vôi, hệ thống hang động tự nhiên, không gian thờ Phật và kho tàng văn bia ma nhai quý giá. Đây được xem như một “bảo tàng văn bia” ngoài trời, phản ánh sinh động lịch sử, văn hóa, mỹ thuật và tư tưởng của nhiều thời đại.

Chùa Nhẫm Dương và hệ thống di chỉ khảo cổ học

Chùa Nhẫm Dương, tên chữ là Thánh Quang tự, là một ngôi chùa cổ được khởi dựng từ thời Trần. Trải qua các thời kỳ Lê và Nguyễn, chùa nhiều lần được tu bổ, mở rộng và từng là một trung tâm Phật giáo có ảnh hưởng trong khu vực.

Vào thế kỷ XVII, chùa Nhẫm Dương là nơi tu hành của Hòa thượng Thủy Nguyệt, pháp hiệu Thông Giác Đạo Nam Thiền sư, vị tổ đầu tiên của thiền phái Tào Động Việt Nam. Chùa cũng gắn với quá trình truyền bá, phát triển và chấn hưng Phật giáo trong lịch sử.

Theo các tư liệu văn bia còn lưu giữ tại chùa, di tích từng được tu bổ nhiều lần. Năm 1856, Thượng điện ba gian được sửa chữa. Năm Tự Đức thứ 12, tức năm 1859, chùa làm lại chín pho tượng Phật bằng đá. Năm Tự Đức thứ 27, tức năm 1874, nhân dân công đức chuông đồng và một mẫu ruộng cho chùa. Lần tu sửa được ghi nhận muộn nhất trong tư liệu cổ là vào năm Bảo Đại thứ 13, tức năm 1938.

Năm 1952, chùa bị thực dân Pháp tàn phá nặng nề. Sau năm 1954, nhân dân địa phương dựng lại chùa bằng tranh tre, nứa lá để duy trì việc thờ Phật. Sau năm 1975, nhà sư và tín đồ Phật tử xây dựng lại chùa bằng gạch, lợp ngói. Năm 1996, chùa được trùng tu trên nền móng cũ bằng nguồn kinh phí của nhân dân và Phật tử thập phương. Nhà Tổ được khởi công năm 2006 và hoàn thành năm 2011.

Chùa Nhẫm Dương hiện còn bảo lưu hai tháp đá thời Lê có giá trị đặc biệt. Tháp phía sau chùa chính cao năm tầng, bằng đá xanh, là nơi thờ xá lợi của Đệ nhất Tổ thiền phái Tào Động Việt Nam, Thiền sư Thông Giác Thủy Nguyệt. Tháp thứ hai cao ba tầng, nằm ở lưng chừng núi Nghè phía trước chùa, là tháp của Đệ nhị Tổ Tông Diễn Chân Dung. Hai ngôi tháp là những di vật quan trọng minh chứng cho lịch sử phát triển của thiền phái Tào Động tại Việt Nam.

Bên cạnh giá trị tôn giáo, chùa Nhẫm Dương còn nằm trong một không gian khảo cổ học đặc biệt với hệ thống hang động chứa đựng nhiều dấu tích cư trú của người tiền sử.

Tại động Thánh Hóa, phía sau chùa, các cuộc khảo sát và khai quật trong những năm 2000 và 2001 đã phát hiện di cốt hóa thạch của nhiều loài động vật như voi, tê giác, hổ, báo, lợn rừng, nhím, khỉ và đặc biệt là răng Pongo, tức đười ươi cổ. Các phát hiện cho thấy tầng văn hóa trong động có nơi dày tới khoảng 4m, với nhiều hóa thạch có niên đại từ khoảng 3 đến 5 vạn năm trước.

Ngoài hóa thạch động vật, tại đây còn phát hiện dấu tích xương người cổ bị thạch nhũ bao phủ. Việc phát hiện hóa thạch răng Pongo ở Nhẫm Dương có ý nghĩa quan trọng đối với nghiên cứu quá trình cư trú và thích nghi của cư dân tiền sử tại khu vực gần biển. Trước đó, các địa điểm phát hiện hóa thạch Pongo ở Việt Nam chủ yếu tập trung tại các vùng núi phía Bắc và Bắc Trung Bộ.

Tại Hang Tối, các nhà khảo cổ học còn phát hiện một số hiện vật bằng đồng như rìu đồng có vai, thạp đồng và lưỡi xéo đồng, có liên hệ với văn hóa Đông Sơn. Khu vực núi Nhẫm Dương cũng từng phát hiện nhiều công cụ đá, rìu đá, công cụ đá cuội, lõi khoan, hòn mài và đá mài thuộc các giai đoạn khác nhau của thời đại đồ đá.

Tổng số hiện vật thu thập được tại hai hang Thánh Hóa và Hang Tối lên tới khoảng 1.796 hiện vật, phần lớn là hóa thạch động vật có niên đại hàng vạn năm. Những phát hiện này khẳng định Nhẫm Dương là một địa điểm khảo cổ học quan trọng, phản ánh quá trình cư trú lâu dài của con người tại vùng Kinh Môn.

Giá trị nổi bật của quần thể An Phụ – Kính Chủ – Nhẫm Dương

Quần thể An Phụ – Kính Chủ – Nhẫm Dương là một không gian di sản đặc biệt, kết hợp hài hòa giữa các giá trị lịch sử, văn hóa, tôn giáo, cảnh quan và khảo cổ học. Quần thể hình thành trong không gian văn hóa lâu đời của cư dân đồng bằng Bắc Bộ, đồng thời giữ vị trí quan trọng trên tuyến giao lưu giữa kinh đô Thăng Long, vùng Đông Bắc, châu thổ sông Hồng và khu vực biển Đông.

Nơi đây gắn với tên tuổi của nhiều nhân vật lịch sử, vua chúa, danh nhân, văn nhân và các bậc cao tăng như An Sinh Vương Trần Liễu, Trần Hưng Đạo, vua Lê Thánh Tông, Phạm Sư Mạnh, Vũ Cán, Trương Quốc Dụng, Thiền sư Thủy Nguyệt, Tông Diễn cùng nhiều nhân vật khác.

Quần thể cũng ghi dấu nhiều giai đoạn đấu tranh bảo vệ đất nước, từ cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông thời Trần, cuộc kháng chiến chống quân Minh thời Lê, đến hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ trong thế kỷ XX.

Về tôn giáo, cả ba khu vực đều có những cơ sở Phật giáo quan trọng. Chùa Tường Vân ở An Phụ gắn với Phật Hoàng Trần Nhân Tông và thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Chùa Dương Nham tại Kính Chủ là không gian Phật giáo cổ gắn với hệ thống văn bia ma nhai. Chùa Nhẫm Dương là một trung tâm quan trọng của thiền phái Tào Động Việt Nam. Cùng với Côn Sơn – Kiếp Bạc, Yên Tử và các di tích nhà Trần ở Quảng Ninh, quần thể An Phụ – Kính Chủ – Nhẫm Dương góp phần tạo nên không gian văn hóa Phật giáo đặc sắc của vùng Đông Bắc.

Quần thể còn có giá trị lớn về cảnh quan thiên nhiên. Những dãy núi đá vôi, hang động, thạch nhũ, khe nước, cây cối và hệ sinh thái tự nhiên tạo nên một không gian thắng cảnh đa dạng. Đặc biệt, hệ thống hang động ở Nhẫm Dương chứa đựng các lớp trầm tích, hóa thạch động vật, di vật đá, đồ đồng và dấu tích người cổ, góp phần làm sáng tỏ lịch sử tự nhiên và lịch sử cư trú của con người tại khu vực này.

Việc xếp hạng An Phụ – Kính Chủ – Nhẫm Dương là di tích quốc gia đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong công tác bảo tồn các di tích lịch sử, công trình tôn giáo, hệ thống hang động, văn bia ma nhai và di chỉ khảo cổ học. Đồng thời, đây cũng là cơ sở để địa phương phát huy giá trị di sản, phát triển du lịch văn hóa, du lịch tâm linh và kết nối với các quần thể di tích nổi tiếng khác trong vùng Đông Bắc.

Với hệ thống di tích phong phú, cảnh quan kỳ thú và những tư liệu khảo cổ học có giá trị, quần thể An Phụ – Kính Chủ – Nhẫm Dương là một trong những di sản tiêu biểu của tỉnh Hải Dương, thể hiện sự giao thoa giữa lịch sử dân tộc, văn hóa Phật giáo, nghệ thuật cổ truyền và quá trình cư trú lâu dài của con người trên vùng đất Kinh Môn.

5/5 - (1 bình chọn)

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Fill out this field
Fill out this field
Vui lòng nhập địa chỉ email hợp lệ.
You need to agree with the terms to proceed

Liên hệ truyền thông 0938948549

1 result
Bạn sẽ quan tâm?:
Có thể bạn cũng quan tâm: