Chùa Thầy và khu vực núi đá Sài Sơn, Hoàng Xá, Phượng Cách thuộc xã Quốc Oai, thành phố Hà Nội. Đây là quần thể di tích lịch sử, văn hóa, kiến trúc nghệ thuật đặc biệt tiêu biểu, hình thành trong không gian cảnh quan núi đá thấp giữa vùng đồng bằng trù phú của xứ Đoài. Quần thể di tích gắn liền với tên tuổi Thiền sư Từ Đạo Hạnh (1072 – 1117), vị tổ sư thứ 24 của dòng thiền Tì Ni Đa Lưu Chi, đồng thời phản ánh quá trình giao thoa giữa Phật giáo, Đạo giáo và tín ngưỡng dân gian Việt Nam qua nhiều thời kỳ lịch sử.
Trong lịch sử, chùa Thầy từng được biết đến với nhiều tên gọi như Hương Hải Am, Bồ Đề Viện, Phật Tích. Toàn bộ khu di tích gồm ba khu vực chính: khu núi đá Sài Sơn, Hoàng Xá, Phượng Cách; quần thể kiến trúc chùa Thầy và các di tích trong núi động Hoàng Xá.
Không gian núi đá Sài Sơn và quần thể chùa Thầy
Theo quan niệm phong thủy truyền thống, núi Sài được xem như một con rồng lẻ đàn, xung quanh có 18 ngọn núi nhỏ được gọi là “Thập bát tú sơn” chầu về, tạo thế án ngữ cho tổ sơn Tản Viên. Hiện nay còn 11 ngọn núi gồm Sài Sơn, Long Đẩu, Hoa Sơn, Hương Sơn (Hổ Sơn), Phượng Hoàng, Kỳ Lân, Sơn Tượng, Âm Giang, Ông Minh, Đồng Hè và Hoàng Xá. Nổi bật nhất là Sài Sơn, còn gọi là núi Thầy, có hình vòng cung kéo dài từ Sài Sơn xuống Hoàng Xá, cao khoảng 100m và bán kính trên 3km. Trên núi còn có nhiều cây cổ thụ, các loài thực vật và cây thuốc quý, cùng hệ thống hang động, thắng cảnh như hang Cắc Cớ, hang Thánh Hóa, hang Gió, Bàn Cờ Tiên và Chợ Trời.
Hang Cắc Cớ nằm ở lưng chừng núi, cửa hang nhỏ, sâu, tối và trơn, bên trong có những khoảng vòm rộng. Tại đây còn lưu giữ một bể xương người, gắn với truyền thuyết về nghĩa quân Lữ Gia thời Triệu chống lại quân Tây Hán. Những dấu tích và truyền thuyết này góp phần tạo nên lớp trầm tích lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng đặc biệt của vùng núi Sài Sơn.
Quần thể chùa Thầy nằm chủ yếu ở chân và sườn núi Sài Sơn, đồng thời liên kết với một số ngọn núi và di tích lân cận. Các công trình gồm chùa Thầy, chùa Bối Am còn gọi là chùa Một Mái, chùa Cao, đền Thượng, chùa Long Đẩu, chùa Sài Khê và đền Quán Thánh.
Chùa Thầy, còn gọi là chùa Cả hoặc Thiên Phúc Tự, là trung tâm của toàn bộ quần thể. Mặt bằng kiến trúc được tổ chức thành nhiều đơn nguyên, tạo thành bố cục “nội tiền công, hậu nhất, ngoại quốc”. Trong đó, Thủy đình nằm giữa hồ Long Trì là một trong những hình ảnh đặc trưng nhất của di tích. Công trình có một gian hai dĩ, kiểu phương đình, chồng diêm hai tầng tám mái với các góc đao cong. Thủy đình được xây dựng khoảng thời Hậu Lê, có phần giữa nằm trên mặt nước và hai bên cao hơn mặt nước, từng là nơi phục vụ các hoạt động biểu diễn rối nước.
Hai cây cầu Nhật Tiên và Nguyệt Tiên tạo nên mối liên hệ giữa chùa, hồ và núi. Cả hai đều mang kiểu kiến trúc “thượng gia hạ kiều”. Cầu Nhật Tiên nằm phía trái chùa, dẫn ra đảo có đền Tam Phủ; cầu Nguyệt Tiên nằm phía phải, nối khu vực chùa với đường lên núi. Theo truyền thuyết, hai cây cầu do Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan xây dựng vào những năm đầu thế kỷ XVII. Đền Tam Phủ nằm trên một gò đất nổi giữa hồ, xây bằng đá ong đỏ sẫm, gồm ba gian hai dĩ nhỏ, bốn lá mái lợp ngói mũi hài. Công trình được cho là xuất hiện vào đầu thời Nguyễn.
Các công trình chính của chùa Thầy tạo thành một chỉnh thể kiến trúc có giá trị đặc biệt. Tiền đường, còn gọi là chùa Hạ, dài khoảng 20m, rộng 5m, cao 5,2m, gồm ba gian hai chái, dựng trên nền cao khoảng 1m so với sân. Bộ vì có bốn hàng chân cột, kết cấu giá chiêng, kẻ suốt, mái lợp ngói mũi hài và bốn đầu đao cong. Trên mái có các hình tượng makara, lân, rồng; hai đầu hồi trang trí hình mặt trời, hoa cúc, mây và các đường xoắn. Hệ thống cửa bức bàn cùng những mảng chạm tia lửa, lá đề trên ván nong, ván lá gió thể hiện rõ trình độ của nghệ thuật chạm khắc gỗ truyền thống.
Nhà cầu, hay ống muống, nối tiền đường với thượng điện, gồm một gian hai mái chạy dọc, dài 4,1m, rộng 4,5m. Hai hàng lan can và vách ngăn bằng gỗ được trang trí bằng chấn song con tiện, chia thành nhiều tầng với các hoa văn đặc trưng của nghệ thuật điêu khắc gỗ thế kỷ XVII. Thượng điện, còn gọi là chùa Trung, gồm ba gian hai chái, dài 20m, rộng 9,5m, cao 5,5m. Công trình có nền cao hơn tiền đường khoảng 0,5m, kết cấu vì theo kiểu chồng rường, giá chiêng, mái ngói mũi hài và hệ thống cửa bức bàn bao quanh hai bên hồi và phía sau.
Điện Thánh, còn gọi là chùa Thượng, nằm cao hơn điện Phật khoảng 0,95m. Công trình gồm một gian hai chái lớn, dài 14,7m, rộng 11,7m và cao khoảng 6m. Bộ khung gồm bốn cột cái và 16 cột quân, trong đó có một cột bằng gỗ ngọc am và một cột gỗ chò vẩy có chu vi khoảng 1,8m. Mặt ngoài được chạm khắc nhiều đề tài rồng, lân, phượng, hoa lá, vân mây và cánh sen. Phía sau điện là hệ thống bậc đá với đôi sấu đá đầu nghê, mình sóc mang phong cách điêu khắc thời Trần.
Hai dãy hành lang chạy dọc hai bên chùa, mỗi dãy gồm 13 gian nhỏ và đặt chín pho tượng La Hán. Ba gian cuối mỗi dãy được nâng cao thành gác Chuông và gác Trống, tạo nên một đặc điểm kiến trúc khá độc đáo của chùa Thầy. Phía sau điện Thánh là nhà hậu đường gồm 11 gian hai dĩ nhỏ.
Chùa Cao, còn gọi là Đỉnh Sơn tự hoặc Am Hiển Thụy, nằm ở lưng chừng núi và nối với chùa Cả qua cầu Nguyệt Tiên. Khu vực này gắn với hang Thánh Hóa, nơi truyền thuyết kể rằng Từ Đạo Hạnh đã giải thi, tức trút xác, để đầu thai làm con của Sùng Hiền Hầu, sau trở thành vua Lý Thần Tông. Chùa Cao có gác chuông, chùa chính gồm tiền đường, thượng điện và một số công trình phụ trợ.
Chùa Một Mái, còn gọi là Bối Am tự, nằm dưới chân núi, có cửa sau dẫn lên núi. Chùa gồm tiền đường, thượng điện, gác Chuông và nhà lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, vốn là nhà tổ của chùa Bối Am. Từ ngày 3 tháng 2 đến ngày 2 tháng 3 năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng ở và làm việc tại đây. Vì vậy, bên cạnh giá trị tôn giáo và kiến trúc, chùa Một Mái còn gắn với lịch sử hoạt động cách mạng trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp.
Đền Thượng, còn gọi là đền Văn Xương, nằm ở phía bên kia sườn núi, phía trên chùa Bối Am. Đền được xây dựng khoảng thế kỷ XVII – XVIII, thờ Văn Xương Đế Quân, Tản Viên Sơn Thánh và Từ Đạo Hạnh. Với kiến trúc ba gian hai chái, bốn lá mái, hệ thống cửa bức bàn và bộ khung gỗ bốn hàng chân cột, công trình phản ánh sự kết hợp giữa tín ngưỡng dân gian, Đạo giáo và Phật giáo. Trong xã hội phong kiến, các sĩ tử từng đến đây ăn chay, cầu đảo với mong muốn thi đỗ. Đền cũng từng là địa điểm hội họp của phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục.
Chùa Long Đẩu nằm dưới chân Long Đẩu Sơn, ngọn núi có hình dáng như rồng và được xem là tiền án của chùa Thầy. Chùa được khởi dựng vào cuối thế kỷ XI và từng được trùng tu lớn dưới thời Trần, niên hiệu Hưng Long thứ 2 (1294). Đến năm Chính Hòa thứ 21 (1708), chúa Trịnh Cương cùng Cung Tần Ngọc Lãnh công đức tiền vàng xây dựng thêm nhà Tổ, hành lang và hậu điện.
Chùa Sài Khê, còn gọi là Hoa Phát tự, nằm dưới chân Hoa Sơn. Đây cũng là một ngôi chùa có lịch sử hình thành sớm, trải qua nhiều lần tu bổ và đến thế kỷ XVII đã có hệ thống kiến trúc, tượng thờ tương đối phong phú. Hiện chùa gồm tam quan, gác chuông, chùa chính, nhà Tổ và nhà Mẫu, lưu giữ 51 pho tượng tròn cùng tòa Cửu Long, trong đó có nhiều tác phẩm có giá trị nghệ thuật như tượng Đại Thế Chí Bồ Tát và Quán Thế Âm Bồ Tát.
Đền Quán Thánh nằm dưới chân Hổ Sơn, cách chùa Thầy khoảng 1km về phía Đông Nam. Theo truyền thuyết, đây là nơi chôn cất tro cốt của Từ Đạo Hạnh, còn tinh cốt được yểm vào tượng và đặt trong khám thờ. Quán được dựng từ thế kỷ XII, đến thế kỷ XV được xây dựng với quy mô tương đối hoàn chỉnh và được tu sửa lớn năm 1925, đại tu năm 1996. Công trình có mặt bằng hình chữ Nhất, bộ vì kiểu chồng rường, tường xây bằng đá ong cổ và mái lợp ngói mũi. Các mảng trang trí tứ linh, rồng mây, hoa lá và vân xoắn mang phong cách Lê Trung Hưng.
Các di tích trong núi động Hoàng Xá và giá trị di sản
Núi động Hoàng Xá, thuộc khu vực Hoàng Ngô, nay là thị trấn Quốc Oai, nhìn từ xa có hình dáng giống một con voi khổng lồ nên còn được gọi là núi Tượng Linh. Trong núi có hang động lớn Hoàng Xá, trên vách động đặt tượng Cao Xuân Dục (1842 – 1923), người từng làm Tri phủ Quốc Oai. Sau khi ông qua đời, người dân địa phương tạc tượng để tưởng nhớ và thờ phụng ông tại đây. Các di tích tiêu biểu trong khu vực gồm chùa Hoa Vân, đền Văn Xương, Quán Hoàng Xá và chùa Hoàng Kim.
Chùa Hoa Vân nằm cách động Hoàng Xá khoảng 200m, gồm tiền đường, thượng điện, nhà khách, nhà Tổ và nhà Mẫu. Tiền đường năm gian hai dĩ, tường hồi bít đốc tay ngai, hai tầng mái lợp ngói ri, phía trước có phần thắt cổ diêm. Trên bờ nóc đặt ba cây tháp cửu phẩm liên hoa, thể hiện đặc trưng của một ngôi chùa theo tông Tịnh Độ. Các bộ vì kết cấu theo kiểu thượng giá chiêng con nhị, hạ kẻ bẩy trên bốn hàng chân cột. Thượng điện ba gian nối từ giữa tiền đường về phía sau, có kết cấu tương tự.
Đền Văn Xương nằm trên đỉnh núi Hoàng Xá, có mặt bằng chữ Đinh, gồm tiền tế và hậu cung. Tiền tế ba gian hai dĩ, tường hồi bít đốc, mái ngói ri, cửa bức bàn và chắn song con tiện. Các bộ vì theo kiểu thượng chồng rường, hạ kẻ bẩy trên bốn hàng chân cột, mang dấu ấn kiến trúc thời Nguyễn. Hậu cung là một gian nhà dọc, đặt sập thờ và tượng Văn Xương Đế Quân.
Quán Hoàng Xá có mặt bằng chữ Đinh, gồm nghi môn, tiền tế và hậu cung nằm trên cùng một trục, phía sau tựa vào núi. Tiền tế ba gian hai chái, tường hồi trụ biểu, bộ vì theo kiểu thượng chồng rường con nhị, hạ kẻ bẩy hiên. Trước hiên có đôi rồng đá hướng ra cổng. Hậu cung ba gian, bộ vì được trang trí với đề tài lưỡng long chầu nguyệt và bốn chữ Hán “Cổ tích linh từ”. Trong gian thờ đặt khám lửng thờ Thành hoàng làng. Quán còn lưu giữ pho tượng Lữ Gia có niên đại thời Mạc, được tạo hình gần với người thật.
Chùa Hoàng Kim cũng có bố cục chữ Đinh gồm tiền đường và thượng điện. Tiền đường ba gian hai chái, bộ vì giá chiêng kẻ bẩy trên ba hàng chân cột, cột cái là cốn mê chạm nổi hình rồng và tứ linh. Thượng điện là Tam bảo, gồm ba gian, bộ vì giá chiêng kẻ ngồi trên hai hàng chân cột. Chùa lưu giữ nhiều tượng có giá trị, trong đó có tượng A Di Đà và Nhị vị Bồ tát mang phong cách nghệ thuật thời Lê, cùng một pho tượng đá và bệ tượng mang phong cách nghệ thuật thời Lý. Trong khuôn viên còn có nhà Mẫu, miếu Võ Thịnh thờ Quan Công và Đức Thánh Trần.
Toàn bộ quần thể chùa Thầy và khu vực phụ cận còn bảo lưu hệ thống di vật, cổ vật phong phú về chất liệu và loại hình, gồm đá, gỗ, giấy, tượng thờ, nhang án, hoành phi, câu đối và nhiều hiện vật có giá trị lịch sử, nghệ thuật. Tiêu biểu có bộ tượng Di Đà Tam Tôn được công nhận là Bảo vật quốc gia; tượng Thánh Từ qua ba kiếp; tượng Lữ Gia; hệ thống tượng Tam thế Phật; bệ đá hoa sen có sư tử đội mang phong cách thời Lý; bệ hoa sen hai tầng, còn gọi là Bách hoa đài, thời Trần; khám thờ thời Mạc cùng nhiều tác phẩm điêu khắc và đồ thờ có giá trị.
Giá trị của khu di tích không chỉ nằm ở hệ thống kiến trúc và hiện vật mà còn thể hiện rõ qua các giá trị văn hóa phi vật thể được cộng đồng gìn giữ. Nổi bật nhất là Hội Thầy diễn ra từ ngày mùng 5 đến mùng 8 tháng Ba âm lịch hằng năm, trong đó ngày mùng 7 là chính hội. Đây là một trong những lễ hội lâu đời và nổi tiếng của vùng xứ Đoài, gắn với tín ngưỡng thờ Phật, thờ Thánh Từ Đạo Hạnh và nhiều lớp văn hóa dân gian. Dân gian từng lưu truyền câu “Nhất vui là hội chùa Thầy” và “Nhớ ngày mồng bẩy tháng Ba/Trở vào hội Láng trở ra hội Thầy”. Trong những ngày hội có nhiều hoạt động như đánh cờ, đấu vật, kéo co, chọi gà và đặc biệt là biểu diễn múa rối nước tại Thủy đình giữa hồ Long Trì.
Chùa Thầy còn là một trong những địa điểm tiêu biểu cho sự dung hội giữa Phật giáo, Đạo giáo và tín ngưỡng dân gian. Hình tượng Từ Đạo Hạnh được thờ phụng trong nhiều lớp không gian khác nhau, từ chùa, đền, quán đến các hang động và cảnh quan núi đá. Mô hình “tiền Phật, hậu Thánh” tại đây phản ánh quá trình bản địa hóa Phật giáo và sự hòa nhập của các tín ngưỡng truyền thống trong đời sống cộng đồng.
Khu di tích cũng ghi dấu những hoạt động cách mạng quan trọng trong thế kỷ XX. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, khu vực chùa Thầy từng là cơ sở hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh và một số cán bộ cách mạng như Phan Trọng Tuệ, Xuân Thủy, Lê Quang Đạo, đồng thời liên quan đến hoạt động của Xứ ủy Bắc Kỳ và Cơ quan Báo Cứu quốc. Những dấu tích này tạo thêm một lớp giá trị lịch sử cho quần thể, bên cạnh các giá trị về tôn giáo, kiến trúc, điêu khắc và cảnh quan.
Với sự kết hợp hài hòa giữa núi, hồ, hang động, chùa, đền, quán và các công trình tín ngưỡng, chùa Thầy và khu vực núi đá Sài Sơn, Hoàng Xá, Phượng Cách là một quần thể di sản tiêu biểu của vùng xứ Đoài. Nơi đây vừa bảo lưu dấu tích gắn với Thiền sư Từ Đạo Hạnh, vừa phản ánh lịch sử phát triển của Phật giáo và tín ngưỡng dân gian, đồng thời lưu giữ nhiều giá trị kiến trúc, điêu khắc, khảo cổ và văn hóa cộng đồng qua nhiều thế kỷ.
Với những giá trị đặc biệt tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, kiến trúc nghệ thuật và cảnh quan, Chùa Thầy và khu vực núi đá Sài Sơn, Hoàng Xá, Phượng Cách, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 2408/QĐ-TTg ngày 31/12/2014.











