Chùa Vĩnh Nghiêm

Chùa Vĩnh Nghiêm, còn gọi là chùa Chúc Thánh, chùa La, chùa Ông La hay chùa Đức La, thuộc phường Tân An, thành phố Bắc Ninh, là một trong những trung tâm Phật giáo có vị trí đặc biệt trong lịch sử Phật giáo Việt Nam. Đây là nơi thờ Phật, đào tạo tăng đồ, đồng thời là chốn tổ của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử và nơi thờ Trúc Lâm Tam Tổ, gồm Phật Hoàng Trần Nhân Tông (1258 – 1308), Pháp Loa (1284 – 1330) và Huyền Quang (1254 – 1334).

Trong lịch sử Phật giáo thời Trần, chùa Vĩnh Nghiêm giữ vai trò như một trung tâm đào tạo và tổ chức tăng sĩ. Đây là nơi các tăng sĩ đến an cư, kiết hạ, học kinh, giảng pháp, tu tập và được định chức danh. Từ đây, tư tưởng và giáo lý của Thiền phái Trúc Lâm được truyền bá đến nhiều vùng miền, góp phần hình thành một dòng thiền mang đậm bản sắc Phật giáo Việt Nam. Vĩnh Nghiêm vì thế không chỉ là một ngôi chùa cổ mà còn là một địa điểm quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển của Phật giáo Việt Nam thời trung đại.

Theo các nguồn tư liệu bia ký và thư tịch cổ, chùa Vĩnh Nghiêm được Phật Hoàng Trần Nhân Tông trung hưng trên nền móng của một ngôi chùa nhỏ có từ thời Lý, thường được nhắc đến với tên chùa Chúc Thánh, vào cuối thế kỷ XIII. Sau khi Thiền phái Trúc Lâm được hình thành, Vĩnh Nghiêm trở thành một trong những cơ sở quan trọng của dòng thiền này. Nơi đây từng là trung tâm đào tạo tăng sĩ, tổ chức các hoạt động Phật giáo và lưu giữ kinh sách, qua đó có ảnh hưởng rộng lớn đối với đời sống tín ngưỡng, văn hóa và tinh thần của cộng đồng.

Chùa tọa lạc ở vị trí được người xưa đánh giá cao về địa thế, phía trước là ngã ba Phượng Nhỡn, nơi sông Thương và sông Lục Nam gặp nhau, phía sau là dãy núi Cô Tiên cùng các ngọn núi được gọi theo hình tượng con Voi, con Lân. Hai bên là vùng đồng ruộng và khu dân cư. Thế đất này tạo nên không gian cảnh quan vừa rộng mở về phía sông nước, vừa có điểm tựa núi non phía sau, phù hợp với quan niệm phong thủy truyền thống về thế đất “đầu gối sơn, chân đạp thủy”.

Tổng thể chùa được bố trí theo trục Nam – Bắc, các công trình tương đối đăng đối, quay hướng Đông Nam. Nhiều đơn nguyên kiến trúc được sắp xếp nối tiếp nhau theo trục chính, kết hợp với các công trình phụ trợ, hành lang, nhà tổ, vườn tháp và khu lưu giữ kinh sách, tạo thành một quần thể kiến trúc Phật giáo có quy mô lớn.

Kiến trúc chùa Vĩnh Nghiêm

Từ Tam quan đi vào là trục chính đạo dài khoảng 100 m, rộng 4 m, lát gạch vuông và bó vỉa bằng những khối đá xanh. Phía trước Tam bảo là khoảng sân rộng lát gạch vuông đỏ. Trong khuôn viên còn hiện diện nhiều công trình kiến trúc có niên đại và phong cách nghệ thuật khác nhau, phản ánh quá trình tồn tại, tu bổ và phát triển liên tục của ngôi chùa qua nhiều thế kỷ.

Tam quan được xây theo kiểu chồng diêm, gồm một gian và hai chái, hai tầng tám mái với các đầu đao cong. Bờ nóc trang trí lưỡng long chầu nguyệt, bờ dải tạo hình nghê chầu, đầu đao đắp hình đầu rồng và con xô. Phía trước Tam quan có đôi rồng đá. Hệ thống khung vì mái gồm bốn hàng chân cột, các vì liên kết theo kiểu con chồng, trụ giá chiêng. Trên các cấu kiện gỗ còn có những mảng chạm nổi đề tài hoa lá, tạo nên sự kết hợp giữa kết cấu kiến trúc truyền thống và nghệ thuật trang trí.

Qua Tam quan là trục đường dẫn vào Tam bảo, một trong những khối kiến trúc quan trọng nhất của chùa. Tam bảo được xây theo kiểu chữ Công, gồm Tiền đường, Thiêu hương và Thượng điện. Phía bên phải sân Tam bảo có một tấm bia đá hình lục lăng mang niên hiệu Hoằng Định thứ 7, năm 1606, ghi lại việc tu sửa chùa. Đây là một tư liệu có giá trị trong việc tìm hiểu lịch sử tồn tại và biến đổi của Vĩnh Nghiêm.

Tòa Tiền đường là công trình có quy mô lớn nhất trong hệ thống kiến trúc của chùa. Mặt trước nền được bó vỉa bằng các phiến đá, nền cao hơn sân khoảng 0,62 m và được nện bằng đất theo kỹ thuật truyền thống. Mái cao hơn 7 m, lợp ngói mũi hài, kết cấu theo kiểu đao tàu, kẻ góc, phần đầu hồi để trống. Bờ nóc và bờ chảy trang trí hoa chanh, chính giữa bờ nóc có hình cuốn thư với ba chữ “Vĩnh Nghiêm tự”.

Tiền đường gồm 5 gian, 2 chái, 8 vì, mỗi vì có 4 hàng chân cột. Hệ thống vì mái được liên kết theo kiểu chồng rường, trụ giá chiêng, thượng tam hạ tứ. Toàn bộ các cấu kiện chính sử dụng gỗ lim, trên đó chạm khắc hoa lá, lá lật, hoa dây và những mô típ trang trí cách điệu. Các gian phía trước tạo cửa gỗ theo kiểu ván đố lụa, soi vỏ măng và bức bàn chân quay. Hai gian ngoài cùng có cửa sổ gỗ kiểu chấn song.

Bên trong Tiền đường là hệ thống tượng thờ và đồ thờ phong phú, gồm Đức Ông, Thánh hiền, Hộ pháp, Tứ trấn cùng hệ thống hoành phi, câu đối. Các hiện vật này vừa phục vụ hoạt động tín ngưỡng, vừa góp phần phản ánh lịch sử nghệ thuật và sinh hoạt Phật giáo tại chùa.

Nối với Tiền đường là tòa Thiêu hương, có tường xây gạch chỉ để mộc, mái lợp ngói mũi hài, nền đất nện. Công trình gồm 3 gian, 4 vì, mỗi vì 4 hàng chân cột. Các vì nóc liên kết theo kiểu chồng rường, giá chiêng, vì nách theo kiểu con chồng, đấu kê. Các cấu kiện gỗ được chạm khắc hoa lá cách điệu.

Phía trong cùng là Thượng điện, gồm 1 gian và 2 chái, 4 vì, mỗi vì 4 hàng chân cột. Hệ thống vì mái được tạo bởi kèo cánh ác, trụ trốn, ván định thiên, con chồng, trụ đấu kê, xà nách và kẻ. Các cấu kiện được làm bằng gỗ lim, bào trơn đóng bén. Thượng điện là không gian chính thờ Phật, đồng thời lưu giữ hệ thống tượng Phật, các kệ tủ đựng mộc bản và nhiều đồ thờ tự có giá trị.

Một trong những bộ phận quan trọng nhất của quần thể là Nhà Tổ đệ nhất, còn gọi là Cung Tổ hay Cung Thánh Tổ, nơi thờ Trúc Lâm Tam Tổ. Công trình có bố cục chữ Công, gồm Đại bái, Ống muống và Hậu cung, mang nhiều đặc điểm của kiến trúc gỗ thời Lê thế kỷ XVII – XVIII.

Đại bái của Nhà Tổ đệ nhất gồm 5 gian, 6 vì, mỗi vì có 4 hàng chân cột. Tường xây gạch chỉ, nền lát gạch vuông truyền thống. Bờ nóc gắn dải hoa chanh, giữa nóc tạo hình cuốn thư với bốn chữ Hán “Trúc Lâm Thanh Giáo”, hai đầu hồi có hình kìm ngậm đầu bờ nóc. Hệ thống cửa sử dụng kiểu bức bàn, các gian chái và hai bên hồi có vách gỗ kiểu đố lụa.

Bộ khung gỗ của Đại bái được làm bằng gỗ lim, với nhiều cấu kiện chạm nổi hình hoa lá cách điệu. Hai vì gian giữa sử dụng kiểu vì kèo cột ván, kèo tam giác và kẻ suốt, trong khi các vì còn lại có kết cấu chồng rường, trụ đặt trên xà nách để đỡ hệ thống kẻ góc. Gian giữa treo hoành phi “Di Đà Phật”, hai bên cột cái có câu đối chữ Hán. Bên trái đặt một bia đá xanh cao gần 2 m, rộng hơn 1 m, mang niên hiệu Bảo Đại thứ 7, năm 1932. Trong Đại bái còn có ban thờ Mẫu Thượng Thiên, tượng Quan Án và các đồ thờ tự.

Ống muống nối Đại bái với Hậu cung, gồm 2 gian, 3 vì, mỗi vì 4 hàng chân cột. Công trình tường gạch, mái ngói mũi, nền lát gạch vuông truyền thống. Hai vì mái gian trước được kết cấu theo kiểu vì kèo cột ván, vì gian trong theo kiểu giá chiêng. Các cấu kiện gỗ chạm nổi hoa văn lá lật.

Hậu cung Nhà Tổ đệ nhất gồm 1 gian, 2 chái, 2 vì, mỗi vì có 4 hàng chân cột. Mái lợp ngói mũi, nền lát gạch bát, bờ nóc và bờ dải trang trí hoa chanh, bờ nóc có hình kìm. Hệ thống vì nóc sử dụng kiểu vì kèo cột ván, vì nách kiểu bán giá chiêng. Đặc biệt, vách hậu cung làm bằng gỗ theo kiểu đố lụa. Chính giữa đặt ban thờ Trúc Lâm Tam Tổ cùng tượng Thần Độc Cước và Tôn Ngộ Không.

Giá trị nổi bật của Nhà Tổ đệ nhất còn nằm ở nghệ thuật chạm khắc gỗ. Trên các ván dong xuất hiện những cụm mây nhỏ, thường được gọi là mây linh chi, một mô típ đặc trưng của nghệ thuật thời Lê. Các đầu bẩy được chạm lá lật, lá vân với phần đuôi dài uốn lượn, đường nét chạm tương đối mập và khỏe. Những mô típ này có sự tương đồng với nghệ thuật trang trí trên nhiều công trình kiến trúc gỗ thế kỷ XVII – XVIII ở vùng Kinh Bắc và xứ Bắc.

Gác chuông nằm trên trục dọc phía sau Nhà Tổ đệ nhất và phía trước Nhà Tổ đệ nhị. Công trình có mặt bằng gần vuông, xây theo kiểu chồng diêm 6 mái, cao gần 8 m và chia thành hai tầng. Tầng trên có sàn gỗ, chính giữa treo một quả chuông lớn, tầng dưới dùng làm nơi tiếp khách. Theo tư liệu bia ký, gác chuông và quả chuông được tạo tác vào đầu thế kỷ XIX. Mặc dù đã qua nhiều lần tu bổ, công trình vẫn giữ được hình thức kiến trúc với đao tàu, kẻ góc cùng sự kết hợp giữa gỗ và gạch ngói. Các mảng chạm trên cấu kiện mang những đặc điểm của nghệ thuật thời Nguyễn.

Tiếp theo là Nhà Tổ đệ nhị, có mặt bằng hình chữ Nhị, gồm tòa Bái đường 11 gian chạy song song với Hậu cung 3 gian phía sau, liên kết với nhau bằng máng xối. Bái đường có đầu hồi bít đốc, mái lợp ngói mũi, bờ nóc đắp kìm. Hai đầu hồi xây cột đồng trụ, trên đắp tứ phượng. Hiên rộng hơn 1 m, nền cao hơn sân khoảng 0,2 m và lát gạch bát.

Hệ thống cửa của Bái đường chủ yếu sử dụng gỗ lim, trong đó các gian bên trái tạo cửa kiểu thượng song hạ bản. Hệ thống vì mái có kết cấu bán giá chiêng, kẻ truyền. Phần đầu bẩy hiên chạm nổi lá cách điệu, mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn thế kỷ XIX.

Hậu cung Nhà Tổ đệ nhị gồm 3 gian, tường xây gạch, mái ngói mũi, nền lát gạch vuông đỏ. Bộ khung gỗ lim, vì nóc theo kiểu con chồng, trụ giá chiêng, vì nách kiểu ván mê. Các cấu kiện được chạm hoa lá cách điệu. Bên trong là hệ thống tượng các vị Tổ kế thế qua nhiều thời kỳ, trong đó có Thiền gia Pháp chủ Thích Thanh Hanh, Hòa thượng Trần Như, Hòa thượng Thích Tâm Duyệt.

Ngoài các khối kiến trúc chính, chùa còn có Nhà Mẫu, Nhà in Kinh, hai dãy hành lang Đông – Tây và Vườn tháp. Sự hiện diện của Nhà in Kinh đặc biệt đáng chú ý bởi Vĩnh Nghiêm không chỉ là nơi thờ tự và tu hành mà còn từng giữ vai trò quan trọng trong việc biên soạn, khắc in và truyền bá kinh sách của Phật giáo Trúc Lâm.

Vườn tháp hiện có 9 tháp, là nơi đặt xá lỵ của các vị sư tổ kế thế trụ trì tại chùa. Trong số đó có các vị như Tịnh Phương Sa Môn pháp húy Tâm Viên, Hòa thượng Phù Lãng Trung hiệu Sa Môn – Thông Duệ – Ứng Duyên cùng các vị cao tăng khác. Hệ thống tháp mộ góp phần tạo nên không gian tưởng niệm và lưu giữ dấu tích lịch sử của các thế hệ tăng sĩ từng tu hành, trụ trì tại Vĩnh Nghiêm.

Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm và giá trị di sản

Bên cạnh giá trị về lịch sử và kiến trúc nghệ thuật, chùa Vĩnh Nghiêm còn đặc biệt nổi bật bởi hệ thống hiện vật và tư liệu cổ. Chùa hiện lưu giữ hệ thống bia đá, văn khắc, hoành phi, câu đối, tượng Phật và nhiều đồ thờ tự có giá trị. Hệ thống bia và văn khắc gồm 7 bia đá, 5 văn khắc trên tháp mộ và 1 văn khắc trên chuông, được tạo tác, soạn khắc và dựng trong khoảng từ thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX.

Hệ thống tượng Phật tại chùa là những tác phẩm điêu khắc có giá trị mỹ thuật, trong đó nhiều tác phẩm mang đặc điểm nghệ thuật thời Nguyễn thế kỷ XIX. Cùng với tượng thờ, hoành phi, câu đối và đồ thờ, các hiện vật này tạo nên một hệ thống di sản vật thể phong phú, phản ánh quá trình phát triển của Phật giáo và nghệ thuật tạo tác truyền thống.

Đặc biệt, Vĩnh Nghiêm còn lưu giữ 3.050 mộc bản, một bộ phận tư liệu quan trọng của Phật giáo Trúc Lâm. Mộc bản có thể phân thành ba dạng chính. Nhóm thứ nhất là các bản khắc kinh luật, thường có khung viền quanh lề trang sách. Nhóm thứ hai là những bản khắc có phần chữ kết hợp với họa đồ. Nhóm thứ ba gồm các bản khắc “Lục thù”, “bùa chú”, được sử dụng trong tang lễ và một số nghi lễ tôn giáo.

Những mộc bản này không chỉ có giá trị đối với nghiên cứu lịch sử Phật giáo mà còn cung cấp thông tin về chữ Hán, chữ Nôm, văn học, y học, tư tưởng, tôn giáo, nghệ thuật khắc in và kỹ thuật chế tác mộc bản truyền thống. Chúng cho thấy hoạt động truyền bá kinh sách tại Vĩnh Nghiêm từng được tổ chức với quy mô đáng kể, đồng thời phản ánh vai trò của ngôi chùa trong việc bảo tồn và truyền truyền các giá trị tri thức Phật giáo qua nhiều thế hệ.

Ngày 16/5/2012, Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm được UNESCO ghi danh là Di sản tư liệu thuộc Chương trình Ký ức thế giới khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Việc ghi danh này khẳng định giá trị đặc biệt của bộ mộc bản đối với việc nghiên cứu lịch sử, văn hóa và Phật giáo Việt Nam, đồng thời đưa chùa Vĩnh Nghiêm trở thành một địa điểm quan trọng trong hệ thống di sản tư liệu của khu vực.

Chùa Vĩnh Nghiêm cũng gắn với lịch sử phát triển của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, một dòng thiền mang dấu ấn rõ nét của quá trình Việt hóa Phật giáo. Trúc Lâm được hình thành trên nền tảng tư tưởng Phật giáo nhưng đồng thời gắn chặt với đời sống xã hội và lịch sử dân tộc thời Trần. Việc Trần Nhân Tông sau khi nhường ngôi đã xuất gia tu hành, cùng hoạt động hoằng pháp của Pháp Loa và Huyền Quang, đã tạo nên một giai đoạn phát triển quan trọng của Phật giáo Việt Nam.

Trong hệ thống các địa điểm gắn với Trúc Lâm, Vĩnh Nghiêm có vị trí riêng bởi đây không chỉ là nơi thờ các vị tổ mà còn là trung tâm đào tạo tăng đồ, an cư, giảng kinh và tổ chức hoạt động Phật giáo. Từ Vĩnh Nghiêm, các hoạt động của dòng thiền được truyền tới nhiều địa phương, tạo ảnh hưởng lâu dài đối với đời sống tín ngưỡng và văn hóa của cộng đồng.

Lễ hội chùa Vĩnh Nghiêm

Lễ hội chùa Vĩnh Nghiêm có nguồn gốc gắn với lịch sử của chùa và các vị tổ Trúc Lâm. Trước đây, lễ hội chùa Vĩnh Nghiêm, còn gọi là lễ hội chùa La, được tổ chức vào ngày mồng 1 tháng Mười Một âm lịch, nhân ngày hóa của Giác hoàng Điều Ngự Trần Nhân Tông. Người dân trong vùng gọi đây là tiết lệ chùa La.

Ngày nay, lễ hội được tổ chức vào ngày 14 tháng Hai âm lịch, là ngày giỗ chung của các vị Tổ chùa Vĩnh Nghiêm. Lễ hội có sự tham gia của đông đảo nhân dân nhiều làng, xã trong khu vực, phản ánh ảnh hưởng lâu dài của Phật giáo và Trúc Lâm Tam Tổ đối với đời sống tinh thần của cộng đồng.

Các nghi lễ tại lễ hội thể hiện sự tưởng niệm đối với các vị tổ, đồng thời kết hợp với những hoạt động văn hóa truyền thống của địa phương. Qua lễ hội, ký ức về lịch sử ngôi chùa, lịch sử Thiền phái Trúc Lâm và vai trò của các thế hệ tăng sĩ được duy trì trong đời sống cộng đồng.

Ngày 09/9/2013, Lễ hội chùa Vĩnh Nghiêm được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Với hệ thống kiến trúc có nhiều lớp niên đại, hệ thống tượng thờ, bia đá, văn khắc, mộc bản và các giá trị gắn với lịch sử Phật giáo Việt Nam, chùa Vĩnh Nghiêm là một di tích có giá trị đặc biệt trong nghiên cứu lịch sử, kiến trúc, mỹ thuật, tôn giáo và văn hóa truyền thống. Các công trình trong chùa cho thấy sự tiếp nối của nhiều phong cách kiến trúc từ thời Lê, Nguyễn đến những lần tu bổ về sau, trong khi hệ thống mộc bản và văn khắc cung cấp nguồn tư liệu quan trọng về hoạt động Phật giáo qua nhiều thế kỷ.

Ngày 23/12/2015, tại Quyết định số 2367/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ xếp hạng Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật Chùa Vĩnh Nghiêm, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giangdi tích quốc gia đặc biệt. Đây là sự ghi nhận đối với giá trị nổi bật của một trung tâm Phật giáo có lịch sử lâu đời, nơi lưu giữ những dấu tích quan trọng của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử và một khối lượng lớn di sản vật thể, tư liệu, nghệ thuật và sinh hoạt văn hóa truyền thống của vùng Kinh Bắc.

5/5 - (1 bình chọn)

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Fill out this field
Fill out this field
Vui lòng nhập địa chỉ email hợp lệ.
You need to agree with the terms to proceed

Liên hệ truyền thông 0938948549

1 result
Bạn sẽ quan tâm?:
Có thể bạn cũng quan tâm: