Di tích lịch sử Chiến thắng Đắk Tô – Tân Cảnh là quần thể di tích gắn với những trận đánh lớn diễn ra tại khu vực Bắc Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ, tiêu biểu là các chiến dịch Đắk Tô năm 1967, Đắk Tô II năm 1969 và Chiến dịch Xuân – Hè năm 1972. Di tích thuộc địa bàn huyện Đắk Tô và huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum, ghi dấu những chiến công quan trọng của quân và dân ta trong quá trình chiến đấu, làm thay đổi cục diện chiến trường Tây Nguyên.
Từ các điểm cao Ngọc Bơ Biêng, Ngọc Ring Rua có thể quan sát toàn bộ khu vực Đắk Tô – Tân Cảnh. Địa hình nơi đây tạo thành một lòng chảo được bao bọc bởi nhiều dãy núi cao. Phía Tây và Tây Nam là dãy Ngọc Bơ Biêng, có độ cao từ khoảng 800 đến 1.200 m, kéo dài theo hướng Đông Nam – Tây Bắc, tiếp giáp khu vực Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia. Phía Bắc là dãy Ngọc Tụ cao khoảng 890 m; phía Đông có núi Ngọc Long cao khoảng 903 m và tuyến đường 14 nối về Kon Tum.
Với vị trí án ngữ cửa ngõ phía Bắc Tây Nguyên, Đắk Tô có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về quân sự. Từ năm 1957, chính quyền Ngô Đình Diệm từng bước xây dựng tại đây một hệ thống căn cứ quân sự, sân bay và các cơ sở hậu cần, đồng thời thực hiện chính sách dồn dân lập ấp. Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, Đắk Tô – Tân Cảnh trở thành một trong những khu vực diễn ra giao tranh quyết liệt giữa quân đội Mỹ, quân đội Việt Nam Cộng hòa và lực lượng Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Những chiến dịch lớn tại Đắk Tô – Tân Cảnh
Chiến dịch Đắk Tô I năm 1967
Chiến dịch Đắk Tô I diễn ra trong tháng 11 năm 1967, là một trong những chiến dịch lớn của quân và dân Tây Nguyên nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng lực lượng Mỹ, buộc đối phương phải đưa lực lượng cơ động lên Tây Nguyên, qua đó tạo điều kiện phối hợp với các chiến trường khác trên toàn miền Nam.
Ngày 10/9/1967, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên quyết định mở Chiến dịch Đắk Tô. Bộ Tư lệnh chiến dịch gồm Tư lệnh Hoàng Minh Thảo, Chính ủy Trần Thế Môn và Phó Tư lệnh Cao Văn Khánh. Lực lượng tham gia gồm Sư đoàn Bộ binh 1 với các Trung đoàn 320, 66 và 174; Trung đoàn Bộ binh 24; Trung đoàn Pháo binh 40; Tiểu đoàn Bộ binh 304 cùng lực lượng đặc công và bộ đội địa phương Kon Tum.
Phía Mỹ huy động Lữ đoàn 1 thuộc Sư đoàn Bộ binh 4, Lữ đoàn Dù 173, lực lượng thuộc Sư đoàn Kỵ binh bay 1 cùng các đơn vị không quân. Quân lực Việt Nam Cộng hòa cũng đưa Chiến đoàn Dù 3 tham gia chiến đấu.
Đắk Tô khi đó là một thung lũng nằm ở khu vực giao nhau giữa đường 14 và đường 18, cách Kon Tum khoảng 40 km về phía Bắc. Quân đội Mỹ xây dựng tại đây hệ thống căn cứ, sân bay và trận địa pháo, trong đó căn cứ E42 tại Tân Cảnh và căn cứ Đắk Tô 2 giữ vai trò quan trọng trong tuyến phòng thủ Bắc Tây Nguyên.
Bộ Tư lệnh chiến dịch xác định phương châm chủ yếu là chủ động tạo thế, tạo thời cơ, nhử đối phương vào khu vực đã chuẩn bị để tiêu diệt từng bộ phận, kết hợp tiến công phía trước với đánh vào phía sau, đồng thời sử dụng lực lượng địa phương và các hướng nghi binh để phân tán sự chú ý của đối phương.
Hướng tiến công chủ yếu nằm ở phía Tây Nam Đắk Tô, từ Ngọc Bơ Biêng, Ngọc Tang, Ngọc Com Liệt đến khu vực điểm cao 875. Các đơn vị tổ chức nhiều tuyến trận địa, trong đó những điểm cao ở Ngọc Bơ Biêng và Ngọc Tang giữ vai trò khêu ngòi, thu hút quân Mỹ; khu vực Ngọc Com Liệt và điểm cao 875 được xác định là nơi quyết chiến.
Từ giữa tháng 10/1967, các lực lượng ta đồng thời đẩy mạnh hoạt động tại Gia Lai, Đắk Lắk và các tuyến đường 14, 19, 21 nhằm nghi binh và giữ bí mật cho hướng Đắk Tô. Đến ngày 2/11, các đơn vị cơ bản hoàn thành việc triển khai trận địa.
Ngày 3/11/1967, quân Mỹ chủ động đổ quân xuống khu vực các điểm cao và tiến công những trận địa của ta tại Ngọc Tang, Ngọc Bơ Biêng. Chiến sự nhanh chóng diễn ra quyết liệt. Tiểu đoàn 6 là một trong những đơn vị đầu tiên bước vào chiến đấu, kiên cường giữ các chốt trên dãy Ngọc Bơ Biêng, đánh lui nhiều đợt tiến công của quân Mỹ.
Trong những ngày tiếp theo, Lữ đoàn Dù 173 lần lượt đổ quân xuống các điểm cao 823, 845 và 882 trên dãy Ngọc Com Liệt. Các đơn vị thuộc Trung đoàn 66 tổ chức đánh chặn, tập kích và gây thiệt hại nặng cho lực lượng dù Mỹ. Cùng lúc, Trung đoàn 320 hoạt động tại Ngọc Dơ Lang; Trung đoàn 24 và lực lượng địa phương đánh vào các vị trí phía Đông Bắc Đắk Tô, Tân Cảnh, Ngọc Xia, Ngọc Van và các điểm cao lân cận.
Trước sức ép từ nhiều hướng, quân Mỹ phải đưa lực lượng dự bị thuộc Sư đoàn Kỵ binh bay 1 và Chiến đoàn Dù 3 vào chiến đấu. Không quân Mỹ tăng cường hoạt động đánh phá, sử dụng máy bay ném bom và B-52 đánh vào các khu vực nghi có lực lượng của ta.
Một trong những mục tiêu quan trọng của quân Mỹ là điểm cao 875, nơi được Bộ Tư lệnh chiến dịch xác định là khu vực quyết chiến. Tại đây, Trung đoàn 174 bố trí lực lượng chốt giữ và tổ chức lực lượng cơ động sẵn sàng đánh địch.
Ngày 17 và 18/11, quân Mỹ nhiều lần tiến công điểm cao 875 nhưng bị đẩy lui. Ngày 19/11, lực lượng Mỹ tiếp tục mở cuộc tiến công lớn với sự yểm trợ của máy bay và pháo binh. Trung đoàn 174 tổ chức lực lượng cơ động phối hợp với bộ phận chốt, hình thành thế bao vây và tiến công, tiêu diệt phần lớn Tiểu đoàn 2 thuộc Lữ đoàn Dù 173.
Trận đánh tại điểm cao 875 trở thành trận then chốt của chiến dịch, thể hiện sự phát triển của hình thức chiến thuật vận động tiến công kết hợp chốt trong tác chiến ở địa hình rừng núi.
Đến ngày 22/11/1967, các lực lượng ta chủ động rút khỏi điểm cao 875, kết thúc Chiến dịch Đắk Tô I. Theo các tài liệu tổng kết chiến dịch, quân và dân Tây Nguyên đã đánh nhiều trận, loại khỏi vòng chiến đấu khoảng 4.500 quân địch, bắn rơi và phá hủy khoảng 70 máy bay, phá hủy 18 khẩu pháo và 52 xe quân sự, đồng thời gây thiệt hại nặng cho nhiều đơn vị Mỹ.
Chiến dịch Đắk Tô I hoàn thành mục tiêu đề ra, buộc quân Mỹ phải tập trung lực lượng lớn tại Tây Nguyên, góp phần làm thay đổi thế bố trí chiến lược của đối phương và tạo điều kiện cho quân và dân ta chuẩn bị cho Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Chiến dịch cũng để lại nhiều kinh nghiệm về nghệ thuật khêu ngòi, nhử địch vào thế trận đã chuẩn bị và vận động tiến công kết hợp chốt.
Chiến dịch Đắk Tô II năm 1969
Mùa hè năm 1969, Bộ Tư lệnh Chiến trường Tây Nguyên mở Chiến dịch Đắk Tô II nhằm tiếp tục tiêu diệt lực lượng cơ động của Mỹ, phá thế phòng ngự và làm thất bại từng bước các biện pháp quân sự trong chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”.
Sau 45 ngày đêm chiến đấu, quân và dân ta đã đánh hàng trăm trận, gây tổn thất lớn cho lực lượng đối phương, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh, kho tàng, công sự và cơ sở hậu cần.
Chiến dịch Đắk Tô II được đánh giá là một thắng lợi quan trọng trên chiến trường Tây Nguyên, góp phần làm suy yếu lực lượng cơ động của đối phương và buộc quân Mỹ từng bước chuyển sang thế phòng ngự bị động.
Chiến dịch Xuân – Hè năm 1972 ở Bắc Tây Nguyên
Sau những thắng lợi của quân và dân ba nước Đông Dương năm 1971, cục diện chiến trường có nhiều thay đổi. Bộ Chính trị quyết định mở cuộc tiến công chiến lược năm 1972 trên nhiều hướng, trong đó Tây Nguyên là một trong những chiến trường quan trọng.
Ngày 10/9/1971, Bộ Tổng Tư lệnh giao nhiệm vụ cho Mặt trận Tây Nguyên tiêu diệt lực lượng địch và giải phóng Đắk Tô – Tân Cảnh, đồng thời tạo điều kiện để phát triển chiến dịch theo hướng Kon Tum và các khu vực khác nếu thời cơ cho phép.
Lực lượng tham gia chiến dịch gồm nhiều đơn vị chủ lực của Mặt trận Tây Nguyên và lực lượng tăng cường của Bộ, Quân khu 5, cùng bộ đội địa phương và dân quân trên địa bàn. Ngoài các đơn vị bộ binh còn có pháo binh, xe tăng, công binh, đặc công và lực lượng phòng không.
Chiến dịch Bắc Tây Nguyên Xuân – Hè 1972 bắt đầu ngày 30/3 và kết thúc ngày 5/6/1972. Quân ta lần lượt đánh chiếm các điểm cao quan trọng ở phía Tây sông Pô Cô, sau đó tiến xuống Đắk Tô – Tân Cảnh.
Thắng lợi quan trọng nhất là việc tiêu diệt và làm tan rã hệ thống phòng thủ tại Đắk Tô – Tân Cảnh, trong đó Sư đoàn 22 của Quân lực Việt Nam Cộng hòa bị tiêu diệt, Trung đoàn Thiết giáp 14 bị đánh thiệt hại nặng. Đắk Tô – Tân Cảnh được giải phóng, tạo sức ép lớn đối với lực lượng địch tại Kon Tum.
Sau 68 ngày đêm chiến đấu, quân và dân ta đã đạt được những kết quả lớn về quân sự, tiêu diệt và làm thiệt hại nhiều đơn vị đối phương, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh, kho tàng và cơ sở hậu cần, đồng thời giải phóng một vùng rộng lớn của tỉnh Kon Tum.
Mặc dù chưa đạt được mục tiêu giải phóng thị xã Kon Tum, Chiến dịch Xuân – Hè 1972 ở Bắc Tây Nguyên vẫn tạo ra một thay đổi quan trọng về thế và lực trên chiến trường, góp phần vào thắng lợi chung của cuộc tiến công chiến lược năm 1972.
Các địa điểm thuộc di tích Chiến thắng Đắk Tô – Tân Cảnh
Quần thể di tích lịch sử Chiến thắng Đắk Tô – Tân Cảnh bao gồm nhiều địa điểm gắn với các trận đánh và hệ thống phòng thủ của đối phương, tiêu biểu như Căn cứ E42, sân bay Phượng Hoàng, sân bay L19, điểm cao 1015 và điểm cao 1049.
Căn cứ E42 có diện tích khoảng 20 ha, nằm trên một quả đồi cao khoảng 600 m, được bao bọc bởi sông, núi và tuyến đường giao thông. Khu vực căn cứ hiện đã được khoanh vùng bảo vệ, cắm mốc giới và đặt hệ thống biển chỉ dẫn, biển bảo vệ di tích. Một số dấu tích công sự, hầm hào quân sự trước đây vẫn được xác định trong khu vực.
Sân bay L19 nằm về phía Tây Bắc căn cứ E42, cách khu vực trung tâm khoảng 100 m. Sân bay có đường băng dài khoảng 1 km, rộng khoảng 50 m, từng được sử dụng cho các loại máy bay hạng nhẹ, trong đó có máy bay L-19.
Sân bay Phượng Hoàng nằm cách căn cứ E42 khoảng 7 km về phía Tây, gần tuyến đường 14. Sân bay có đường băng dài khoảng 1,4 km, được xây dựng phục vụ các loại máy bay lớn của quân đội Mỹ.
Điểm cao 1015, còn được gọi là đồi Charlie, nằm trên dãy Ngọc Bơ Biêng ở phía Tây sông Pô Cô, thuộc khu vực các xã Rờ Kơi, Pô Cô. Đây là một vị trí cao, có ý nghĩa quan trọng trong hệ thống chiến trường Bắc Tây Nguyên.
Điểm cao 1049, còn gọi là căn cứ Delta, nằm trên dãy Ngọc Ring Rua, thuộc địa bàn xã Hơ Moong, huyện Sa Thầy, ở độ cao trên 1.000 m so với mực nước biển. Cùng với điểm cao 1015, đây là những vị trí có giá trị đặc biệt trong hệ thống di tích gắn với Chiến thắng Đắk Tô – Tân Cảnh.
Hiện nay, một số hạng mục trong khu di tích đã được tu bổ, tôn tạo như nhà bia, nhà trưng bày chuyên đề về Chiến thắng Đắk Tô – Tân Cảnh và các công trình phục vụ việc giới thiệu, giáo dục truyền thống lịch sử.
Trong quần thể di tích còn có Nghĩa trang Liệt sĩ huyện Đắk Tô, nơi an nghỉ của nhiều cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh trên chiến trường Đắk Tô. Trong số đó có các liệt sĩ thuộc Kíp xe tăng 377 anh hùng gồm Nguyễn Nhân Triển, Hoàng Văn Ái, Trần Quang Vịnh và Nguyễn Đắc Lượng.
Các hiện vật liên quan đến chiến trường Đắk Tô – Tân Cảnh hiện được lưu giữ và trưng bày tại nhiều bảo tàng, nhà truyền thống trong cả nước như Nhà truyền thống Đắk Tô – Tân Cảnh, Bảo tàng tỉnh Kon Tum, Bảo tàng Quân đoàn III, Bảo tàng Quân khu 5, Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam và Bảo tàng Lực lượng Tăng thiết giáp.
Giá trị lịch sử của di tích
Chiến thắng Đắk Tô – Tân Cảnh là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử đấu tranh cách mạng trên chiến trường Tây Nguyên. Những chiến dịch diễn ra tại đây đã làm suy yếu lực lượng quân sự của đối phương, phá vỡ từng bước hệ thống phòng thủ tại Bắc Tây Nguyên và góp phần tạo ra những thay đổi quan trọng về thế trận trên chiến trường miền Nam.
Đặc biệt, Chiến thắng Đắk Tô – Tân Cảnh năm 1972 cùng với những thắng lợi lớn trên các chiến trường Trị – Thiên và Đông Nam Bộ đã góp phần làm thất bại từng bước chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” và buộc Mỹ phải thay đổi chính sách quân sự tại Việt Nam.
Với những giá trị đặc biệt về lịch sử, quân sự và văn hóa, Di tích lịch sử Chiến thắng Đắk Tô – Tân Cảnh được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 2499/QĐ-TTg ngày 22/12/2016.
Ngày 18/01/2022, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục ban hành Quyết định số 93/QĐ-TTg, bổ sung Điểm cao 1015 và Điểm cao 1049 thuộc huyện Sa Thầy và huyện Đắk Tô, tỉnh Kon Tum, vào Di tích quốc gia đặc biệt Địa điểm Chiến thắng Đắk Tô – Tân Cảnh.
Ngày nay, quần thể di tích là địa chỉ quan trọng để nghiên cứu lịch sử, giáo dục truyền thống cách mạng và tưởng niệm những cán bộ, chiến sĩ, đồng bào đã chiến đấu, hy sinh trên chiến trường Bắc Tây Nguyên. Những địa danh như Đắk Tô, Tân Cảnh, Ngọc Bơ Biêng, Ngọc Ring Rua, điểm cao 1015, điểm cao 1049 và điểm cao 875 đã trở thành những địa danh lịch sử gắn với một giai đoạn đặc biệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ.










