Nghề rèn Cầu Vực

“Lấy anh không đói mà lo / Đổ than vô lò là có gạo mai…” là câu ca được nhiều thế hệ người làng rèn Cầu Vực nhắc lại như một lời tự hào về nghề nghiệp đã gắn bó với cộng đồng qua hơn hai thế kỷ.

Nghề rèn Cầu Vực, nay thuộc phường Hương Thủy, thành phố Huế, được hình thành từ một nhóm người Hiền Lương, huyện Phong Điền di cư đến vùng đất này. Theo gia phả của phái Hoàng Thế và các dòng họ ở Hiền Lương, nghề đã được duy trì qua khoảng 7 đến 8 thế hệ, tương đương hơn 200 năm.

Từ những người thợ rèn đầu tiên, một xóm rèn dần hình thành bên cạnh Cầu Vực và được gọi là làng rèn Vực. Qua thời gian, nơi đây trở thành một trong những trung tâm của nghề rèn tại khu vực Hương Thủy, với sinh kế của người dân gắn liền với tiếng búa, lò than và kỹ thuật chế tác kim loại thủ công.

Từ xóm rèn bên Cầu Vực

Sự hình thành làng rèn Cầu Vực gắn với quá trình di cư và định cư của cộng đồng người Hiền Lương. Khi đến vùng đất mới, những người thợ tiếp tục duy trì nghề truyền thống, biến kỹ nghệ rèn thành một phương thức sinh kế lâu dài.

Cùng với nghề, cộng đồng vẫn gìn giữ những phong tục, tập quán và nếp sinh hoạt riêng của một làng nghề thủ công truyền thống. Nghề rèn không chỉ tạo ra công cụ phục vụ đời sống mà còn hình thành một không gian nghề nghiệp trong đó kinh nghiệm, kỹ thuật và bí quyết sản xuất được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Chất lượng sản phẩm trở thành một trong những yếu tố giúp nghề rèn Cầu Vực duy trì thị trường. Những sản phẩm được làm ra chủ yếu là các công cụ cầm tay phục vụ sản xuất nông nghiệp, xây dựng và sinh hoạt.

Những sản phẩm từ lò rèn

Sản phẩm của làng rèn Cầu Vực khá đa dạng, từ những công cụ quen thuộc trong đời sống nông nghiệp đến các dụng cụ phục vụ sản xuất và sinh hoạt.

Các sản phẩm truyền thống gồm cuốc, xẻng, cày, dao, rựa, kéo, bào, liềm và khung xe đạp. Mỗi loại sản phẩm đòi hỏi kỹ thuật tạo hình, xử lý vật liệu và hoàn thiện khác nhau, qua đó hình thành những kinh nghiệm riêng của người thợ.

Trong quá trình phát triển, làng nghề cũng xuất hiện xu hướng chuyên biệt hóa. Có gia đình tập trung rèn kéo, có nhà chuyên làm rựa, trong khi những người thợ khác chuyên về dao. Sự chuyên môn hóa này giúp người thợ tích lũy kỹ năng sâu hơn đối với từng nhóm sản phẩm.

Sản phẩm của làng rèn Vực không chỉ được tiêu thụ tại Huế và các tỉnh miền Trung mà còn có mặt tại những thị trường lớn như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Sản phẩm cũng được sử dụng tại Đà Nẵng và các tỉnh Tây Nguyên.

Giữ nghề giữa những đổi thay

Theo tư liệu, hiện làng rèn Vực có 26 hộ tham gia làm nghề, chiếm khoảng 20% tổng số hộ của tổ dân phố. Sau nhiều giai đoạn khó khăn, nghề rèn những năm gần đây có xu hướng phát triển trở lại.

Hoạt động sản xuất từng bước được tổ chức theo hướng phù hợp với các quy định pháp luật, đồng thời hình thành những hoạt động xã hội liên quan đến nghề. Các cơ sở cũng chú trọng thực hiện những yêu cầu về vệ sinh và môi trường trong quá trình sản xuất.

Việc duy trì nghề trong điều kiện hiện nay không chỉ phụ thuộc vào kỹ thuật truyền thống mà còn đòi hỏi khả năng thích ứng với thị trường, cải thiện năng suất và nâng cao chất lượng sản phẩm.

Đưa máy móc hiện đại vào lò rèn

Từ năm 2008, với sự hỗ trợ của Sở Công Thương, Sở Nông nghiệp và nguồn kinh phí hỗ trợ của UBND thị xã Hương Thủy, một số cơ sở rèn tại làng Vực đã từng bước đầu tư máy móc và thiết bị mới.

Sự thay đổi này giúp các cơ sở nâng cao chất lượng, sản lượng và mẫu mã sản phẩm, đồng thời cải thiện khả năng cạnh tranh trên thị trường. Công nghệ mới được đưa vào một số công đoạn nặng, trong khi những kỹ thuật rèn truyền thống vẫn tiếp tục được sử dụng ở các bước phù hợp.

Sự kết hợp giữa máy móc hiện đại và kỹ nghệ thủ công tạo nên một hướng phát triển mới cho làng nghề, giúp giảm sức lao động ở những công đoạn nặng nhưng vẫn duy trì vai trò của người thợ trong quá trình hoàn thiện sản phẩm.

Kết hợp kỹ thuật hiện đại với nghề rèn truyền thống

Nghệ nhân nghề rèn truyền thống Huỳnh Thế Tiến, chủ cơ sở rèn Trường Tiến, cho biết cơ sở của ông đã sử dụng nguồn kinh phí hỗ trợ để đầu tư quầy trưng bày sản phẩm cùng nhiều thiết bị mới.

Trong đó có máy dập trục khuỷu, máy cán, máy khoan và máy búa nén khí. Những thiết bị này hỗ trợ công đoạn dập phôi thô, vốn được xem là một trong những khâu nặng của quy trình tạo ra sản phẩm rèn.

Việc kết hợp công nghệ với phương pháp rèn truyền thống giúp sản phẩm ngày càng hoàn thiện về hình thức và chất lượng, đồng thời góp phần giảm giá thành và nâng cao khả năng cạnh tranh.

Từ những lò than thủ công bên Cầu Vực đến các cơ sở được trang bị máy móc hiện đại, nghề rèn nơi đây đang cho thấy khả năng thích ứng của một nghề thủ công truyền thống trước những thay đổi của đời sống kinh tế.

Nghề rèn Cầu Vực được công nhận là nghề truyền thống

Nghề rèn Cầu Vực, phường Hương Thủy, thành phố Huế, được UBND tỉnh Thừa Thiên Huế công nhận là nghề truyền thống tỉnh Thừa Thiên Huế theo Quyết định số 628/QĐ-UBND ngày 01/4/2014.

Sự công nhận này ghi nhận quá trình hình thành và phát triển lâu đời của nghề rèn Cầu Vực, đồng thời tạo cơ sở để tiếp tục bảo tồn kỹ thuật truyền thống, phát triển sản phẩm và duy trì sinh kế của cộng đồng làm nghề.

Thông tin cơ bản

Nội dung Thông tin
Tên nghề Nghề rèn Cầu Vực
Địa bàn hiện nay Phường Hương Thủy, thành phố Huế
Nguồn gốc cộng đồng Người Hiền Lương, huyện Phong Điền
Lịch sử nghề Khoảng hơn 200 năm, 7–8 thế hệ
Sản phẩm Cuốc, xẻng, cày, dao, rựa, kéo, bào, liềm, khung xe đạp…
Số hộ làm nghề 26 hộ theo tư liệu
Thị trường Huế, Đà Nẵng, Tây Nguyên, Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh
Hướng phát triển Kết hợp kỹ thuật rèn truyền thống với máy móc hiện đại
Công nhận Nghề truyền thống tỉnh Thừa Thiên Huế
Quyết định Số 628/QĐ-UBND ngày 01/4/2014
5/5 - (1)
Làng nghề truyền thống
Lượt xem: 20
Bạn phải đăng nhập để gửi bình luận.

Liên hệ truyền thông 0938948549

1 result
Bạn sẽ quan tâm?:
Có thể bạn cũng quan tâm: