Đông Cứu là một trong những làng còn gìn giữ nghề thêu truyền thống với kỹ thuật thủ công lâu đời, đặc biệt nổi tiếng với thêu phục chế và các sản phẩm phục vụ đời sống tín ngưỡng, tâm linh. Nghề thêu nơi đây không chỉ tạo ra những sản phẩm có giá trị thẩm mỹ mà còn góp phần phục hồi các hình thức trang phục, đồ thờ và họa tiết truyền thống.
Đông Cứu thuộc vùng Ngũ Xã xưa, gồm các thôn Đông Giai, Đông Cứu, Bình Lăng và Quất Động, nay thuộc xã Thượng Phúc, thành phố Hà Nội. Theo truyền thống của làng, các làng trong Ngũ Xã cùng thờ ông tổ nghề thêu Lê Công Hành, tên thật là Bùi Công Hành. Tương truyền, ông học được nghề thêu trong thời gian đi sứ sang Trung Quốc dưới triều Lê Thái Tông, sau đó truyền nghề về nước. Mỗi làng trong Ngũ Xã được truyền những kỹ thuật riêng để tạo ra các nhóm sản phẩm khác nhau như đồ vải thờ, giày, hia, lọng, nón, quạt, khăn áo.
Làng nghề thêu phục chế bên vùng Ngũ Xã xưa
Đông Cứu hiện vẫn duy trì lối thêu và kỹ thuật thêu cổ, trong đó nổi bật là thêu phục chế và các sản phẩm phục vụ tín ngưỡng như hia, hài, lọng, tàn tán, trang phục tế và trang phục hầu đồng.
Khoảng những năm 1950, nhiều người thợ thêu Đông Cứu từng lên Hàng Nón, Hàng Quạt ở khu vực Phố Cổ Hà Nội để nhận thêu thuê. Đến khoảng những năm 1970, nghề có thời gian bị mai một. Sau năm 1986, nhu cầu đối với các sản phẩm thêu phục vụ đời sống tâm linh bắt đầu tăng trở lại.
Từ năm 2000, cùng với quá trình phục dựng nhiều đình, đền, chùa và lễ hội ở miền Bắc, nghề thêu Đông Cứu có thêm điều kiện phát triển. Những người thợ có tay nghề cao dần mở xưởng thêu tại gia đình, tiếp tục duy trì nghề và truyền lại kỹ thuật cho thế hệ sau.
Nguyên liệu và bộ công cụ của người thợ
Nguyên liệu sử dụng trong nghề thêu Đông Cứu khá đa dạng, gồm các loại vải, chỉ và sợi, bông, rơm, xốp cùng một số vật liệu khác. Nguồn nguyên liệu có thể đến từ trong nước hoặc nhập khẩu.
Bộ công cụ truyền thống gồm khung thêu hình chữ nhật và khung tròn, trong đó khung chữ nhật được sử dụng phổ biến hơn. Người thợ còn sử dụng nhiều loại kim thêu, dụng cụ bắt nét kim tuyến và thắt thịt, bánh vàng để cuốn sợi kim tuyến, đê bảo vệ ngón tay, máy thêu, dầu hỏa, phấn vẽ, dùi mút và giấy can hoặc mica dùng để châm kiểu.
Đối với thêu phục chế, công việc bắt đầu từ việc đánh giá mẫu. Người thợ phải xác định kích thước, chất liệu vải, hệ thống họa tiết và màu sắc để lựa chọn hoặc tạo màu chỉ phù hợp. Với thêu sáng tạo theo đơn đặt hàng, nghệ nhân có thể chủ động hơn trong việc lựa chọn mẫu mã và cách thể hiện.
Nguyên liệu sau đó được chuẩn bị theo từng sản phẩm. Người thợ lựa chọn vải, chỉ màu, sợi kim tuyến và chỉ chặn kim tuyến, đồng thời sơ chế chỉ bằng cách hồ hoặc nhuộm. Với những sản phẩm có phần cốt như hia, mũ, các vật liệu như giấy, gỗ, tre, kim loại, vải dệt từ sợi đay hoặc gai cũng được sử dụng.
Vẽ mẫu, châm kiểu và căng khung
Sau khi chuẩn bị nguyên liệu, người thợ tiến hành vẽ mẫu. Đối với thêu phục chế, đây là công đoạn đặc biệt quan trọng bởi người vẽ phải tính toán phần dư để kích thước và họa tiết không bị hao hụt sau khi hoàn thiện.
Khi một sản phẩm cũ bị mất nhiều chi tiết, người thực hiện phải am hiểu quy luật của mẫu truyền thống, đặc biệt là nguyên tắc đối xứng. Với những sản phẩm tâm linh không có mẫu cố định, nghệ nhân có thể sáng tạo dựa trên vốn họa tiết truyền thống và kinh nghiệm tích lũy qua quá trình hành nghề. Một số gia đình cũng nhận thực hiện sản phẩm cho khách nước ngoài theo những mẫu truyền thống của từng quốc gia.
Tiếp theo là công đoạn châm kiểu và in kiểu. Bản vẽ và giấy can hoặc mica được đặt chồng lên nhau, sau đó người thợ dùng kim châm theo đường nét của mẫu để tạo thành hệ thống lỗ nhỏ.
Bản mẫu châm kiểu được đặt lên vải. Người thợ dùng dùi mút thấm hỗn hợp dầu hỏa và phấn bột rồi đưa lên bề mặt mẫu. Qua các lỗ nhỏ, phấn bám xuống vải tạo thành những chấm liên tiếp, hình thành đường nét của họa tiết cần thêu.
Riêng mũ và hia phải làm cốt trước rồi mới tiến hành in kiểu. Hia thường sử dụng giấy bồi tạo thành cốt, trong khi đế có thể làm bằng cao su hoặc gỗ. Nếu dùng gỗ, người thợ lựa chọn loại nhẹ và có khả năng chống mối mọt.
Sau khi in kiểu, vải được lắp vào khung. Người thợ phải tính toán cách căng khung để vải không bị rúm hoặc xô lệch. Những người có kinh nghiệm biết phần nào cần thêu trước, phần nào nên để sau để độ co giãn của vải được phân bố đều và sản phẩm giữ được hình dáng cân đối.
Những họa tiết quan trọng thường được thực hiện sau cùng, đặc biệt khi phần họa tiết có độn hoặc thắt thịt để tránh phải cuộn gập những khu vực đã hoàn thiện.
Nghệ thuật thêu kim tuyến Đông Cứu
Đông Cứu có hai nhóm kỹ thuật chính là thêu chỉ và thêu kim tuyến, còn gọi là thêu bắt vàng. Trong đó, kỹ thuật thêu kim tuyến được xem là một đặc trưng nổi bật của nghề thêu truyền thống nơi đây.
Đông Cứu còn nổi tiếng với kinh nghiệm sử dụng kỹ thuật “gệch độn” và “chênh lề”, giúp họa tiết nổi lên khỏi bề mặt và tạo cảm giác có chiều sâu. Kỹ thuật thêu có thể được phân chia theo chất liệu sợi thành nhóm thêu kim tuyến và nhóm thêu chỉ màu.
Thêu kim tuyến
Bắt nét kim tuyến được sử dụng để tạo đường bao, đường viền cho các họa tiết như móng chân, vảy rồng, chùm vân. Sợi kim tuyến được đặt theo đường mẫu rồi cố định bằng sợi tơ. Hai sợi phải được bố trí vuông góc để đường nét giữ được độ chính xác. Đây là kỹ thuật đòi hỏi người thợ có tay nghề cao.
Nhồi vòng quanh kim tuyến sử dụng hai hoặc ba sợi kim tuyến đặt song song, sau đó dùng sợi tơ chặn vuông góc. Người thợ thực hiện từng vòng từ ngoài vào trong, tạo nên bề mặt họa tiết có độ dày và độ kín nhất định.
Nhồi đặc kim tuyến tương tự kỹ thuật nhồi vòng quanh nhưng phủ kín toàn bộ họa tiết, thường dùng cho các họa tiết vân và hoa.
Nhồi lộn kim tuyến thường được sử dụng với những họa tiết có nhiều đoạn cong, gấp khúc như mây. Người thợ phải tính toán chính xác khoảng cách giữa các đường thêu để khi quay ngược đường kim, các khoảng trống được lấp kín mà không làm họa tiết bị thủng. Đây là kỹ thuật khó, đòi hỏi kinh nghiệm và khả năng ước lượng rất cao.
Thêu quắn sử dụng hai sợi chỉ có kích thước khác nhau, se vào nhau theo cách sợi lớn ôm sợi nhỏ. Kỹ thuật này được dùng để tạo vân mây, rồng, mặt trời, san hô hoặc các điểm nhấn. Theo tư liệu, đây là kỹ thuật ngày càng ít người còn thực hành.
Thắt thịt không nhồi là kỹ thuật khó, thường áp dụng cho các họa tiết như thân rồng, phượng, cá, chim hoặc mái ngói. Người thợ sử dụng sợi lề để tạo độ nổi, sau đó dùng kim tuyến chặn lên trên theo từng lớp. Những mũi thêu phải đều, chặt và có khoảng cách chính xác để tạo độ nổi đẹp cho họa tiết.
Thắt thịt nhồi cao tương tự kỹ thuật thắt thịt không nhồi nhưng trước khi chằng sợi lề, người thợ nhồi rơm hoặc bông bên dưới để làm họa tiết nổi cao hơn.
Kỹ thuật thêu chỉ màu
Bên cạnh kim tuyến, người thợ Đông Cứu còn sử dụng nhiều kỹ thuật thêu bằng chỉ màu.
Móc xoắn tạo cho sợi chỉ nổi lên thành từng cụm. Thêu bấm được dùng cho những cụm họa tiết như tóc hoặc đuôi rồng, với những mũi chỉ rất ngắn và đều.
Thêu ngang là kỹ thuật cơ bản và quan trọng, được sử dụng để tạo nền và thêu các họa tiết như vân mây, thân rồng, phượng cùng nhiều hoa văn khác. Mũi chỉ phải nằm đều theo một hướng, với chiều dài thống nhất. Cái khó nằm ở việc duy trì sự đồng đều của hàng trăm, thậm chí hàng nghìn mũi thêu.
Những kỹ xảo tạo chiều sâu cho họa tiết
Một trong những giá trị đặc biệt của nghề thêu Đông Cứu nằm ở khả năng tạo cảm giác sinh động và có chiều sâu cho họa tiết. Một số kỹ thuật được xây dựng nhằm khiến hình thêu tạo hiệu ứng gần với không gian ba chiều.
Kỹ thuật nhồi vảy được sử dụng cho các họa tiết phượng, rồng và cá. Người thợ phải tạo khoảng cách phù hợp giữa từng vảy để chúng hiện lên rõ ràng. Với vảy cá, từng vảy được nhồi từ phía đuôi và vảy sau chồng lên vảy trước. Vảy phượng có thêm những đường ngang gợi hình lông ống, trong khi vảy rồng được nhồi kín để tạo cảm giác nổi tự nhiên.
Người thợ cũng có thể tạo hiệu ứng sáng tối bằng cách thay đổi hướng của sợi chỉ, dù sử dụng cùng một loại chỉ và cùng một màu. Sự thay đổi hướng chỉ khiến họa tiết phản sáng khác nhau tùy góc nhìn.
Một số kỹ thuật khác từng được sử dụng như nhồi móng rồng, trong đó tóc người hoặc lông đuôi ngựa được nhồi vào phần móng, hiện không còn được sử dụng. Kỹ thuật ghệch thường được dùng ở phần mép rồng để tạo vẻ uy nghi và mạnh mẽ cho hình tượng.
Các dòng sản phẩm của làng thêu Đông Cứu
Sau khi hoàn thành phần thêu, người thợ dùng kéo cắt bỏ những đoạn chỉ và kim tuyến thừa, kiểm tra sản phẩm rồi chuyển sang công đoạn cắt may hoàn thiện.
Sản phẩm thêu Đông Cứu có thể được phân chia theo nhiều tiêu chí. Theo mẫu, có sản phẩm phục chế theo mẫu cũ và sản phẩm do nghệ nhân tự thiết kế. Theo chất lượng, có hàng rối và hàng kỹ. Hàng kỹ có yêu cầu cao hơn về độ đều và chiều dài mũi chỉ, trong khi hàng rối có mũi dài hơn nhằm giảm công đoạn.
Theo đặc điểm văn hóa, sản phẩm có thể mang phong cách Malaysia, Hồng Kông, áo pháp sư, trang phục truyền thống Trung Quốc, khăn áo hầu hoặc áo thầy cúng của người Sán Dìu.
Theo chức năng sử dụng, sản phẩm gồm các loại trang phục như áo hầu đồng, áo Thành hoàng và những vật dụng thờ như y môn, tàn tán, lọng, hia.
Một số gia đình có tay nghề cao đã hình thành hướng chuyên môn riêng, chẳng hạn gia đình ông Vũ Văn Giỏi chuyên thêu phục chế trang phục cung đình; gia đình ông Nguyễn Đắc Bảy chuyên phục chế và làm mới tàn, tán, lọng; gia đình ông Nguyễn Văn Đốc chuyên làm hia, nón hầu và mũ hầu.
Truyền nghề từ những mũi kim đầu tiên
Nghề thêu Đông Cứu được truyền dạy chủ yếu theo phương thức cầm tay chỉ việc. Người học bắt đầu từ những kỹ năng tưởng như rất nhỏ, chẳng hạn tư thế ngồi sao cho có thể làm việc lâu mà không mỏi, cách cầm kim, cách đâm kim thẳng, cách dằng kim để mũi chỉ chặt và đều.
Sau đó, người học tiếp tục được hướng dẫn cách nhận dạng mẫu, lựa chọn kỹ thuật phù hợp với từng loại họa tiết, cách thêu, cách căng khung và sang kiểu.
“Lối thêu xưa” có những quy định khá chặt chẽ. Hướng của mũi thêu, cách rút kim, chiều dài chỉ, góc đâm kim đều phải tuân thủ kỹ thuật truyền thống.
Theo tư liệu, một người mới học cần khoảng 3 đến 5 tháng chăm chỉ để có thể bắt đầu thêu được. Nếu có đam mê và tiếp tục rèn luyện, người thợ có thể đạt trình độ giỏi sau khoảng 3 đến 5 năm, nhưng thường chỉ giỏi ở một công đoạn hoặc một kỹ thuật nhất định. Tại Đông Cứu, chiều dài mũi thêu thông thường không quá 3 mm, một số kỹ thuật như bấm, đột hoặc lại mũi chỉ dài khoảng 1 mm.
Trong làng có đền thờ Tổ nghề thêu nằm trong khuôn viên chùa. Hằng năm, dân làng tổ chức lễ giỗ Tổ nghề vào ngày 12 tháng Sáu Âm lịch. Theo tư liệu, hiện có 52 người trực tiếp nhận hàng về thêu hoặc thuê thợ thêu, trong đó 14 người mở xưởng thêu tại nhà.
Giá trị của nghề thêu truyền thống Đông Cứu
Nghề thêu Đông Cứu không chỉ tạo ra những sản phẩm trang trí mà còn góp phần phục hồi một phần các hình thức trang phục, đồ thờ và hoa văn truyền thống. Những sản phẩm phục chế giúp tái hiện phần nào các giá trị lịch sử, thẩm mỹ và văn hóa được lưu giữ trong những hiện vật cổ truyền.
Qua nhiều thế hệ, nghề đã bảo lưu những kỹ thuật thêu đặc trưng, đồng thời tiếp tục phát triển khả năng sáng tạo của người thợ. Các sản phẩm mang giá trị thẩm mỹ, văn hóa và kinh tế, đồng thời tạo nên mạng lưới cộng đồng nghề nghiệp vượt ra ngoài phạm vi làng xã.
Nghề thêu cũng góp phần kết nối những người cùng làm nghề thông qua các mối quan hệ sản xuất, truyền nghề và Hiệp hội Nghề thêu Đông Cứu.
Với những giá trị tiêu biểu, Nghề thêu truyền thống ở Đông Cứu được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 4036/QĐ-BVHTTDL ngày 21/11/2016.
Thông tin cơ bản
| Thông tin | Nội dung |
|---|---|
| Tên di sản | Nghề thêu truyền thống ở Đông Cứu |
| Địa điểm | Đông Cứu, xã Thượng Phúc, thành phố Hà Nội |
| Không gian lịch sử | Ngũ Xã xưa |
| Tổ nghề | Lê Công Hành, tên thật Bùi Công Hành |
| Kỹ thuật đặc trưng | Thêu chỉ, thêu kim tuyến, thêu phục chế |
| Sản phẩm | Hia, hài, lọng, tàn tán, trang phục tế, trang phục hầu, đồ thờ |
| Kỹ thuật nổi bật | Bắt nét kim tuyến, nhồi kim tuyến, thắt thịt, thêu quắn, nhồi vảy |
| Truyền nghề | Cầm tay chỉ việc, truyền nghề qua nhiều thế hệ |
| Loại hình di sản | Nghề thủ công truyền thống |
| Ghi danh | Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, năm 2016 |
| Quyết định | 4036/QĐ-BVHTTDL ngày 21/11/2016 |










