Chùa Bửu Minh | Ngôi cổ tự giữa vùng chè Biển Hồ

Giữa những đồi chè xanh trải rộng ở phía Bắc Pleiku, chùa Bửu Minh là một trong những ngôi chùa có lịch sử lâu đời trên vùng cao nguyên. Ngôi chùa nằm tại thôn 1, xã Biển Hồ, tỉnh Gia Lai, giữa không gian cảnh quan đặc trưng của vùng chè Biển Hồ, cách trung tâm phường Pleiku hơn 15 km về phía Bắc.

Từ trung tâm Pleiku, du khách đi theo Quốc lộ 14 về hướng Kon Tum, rẽ vào đường Lê Văn Sỹ, qua đập tràn Nghĩa Hưng rồi tiếp tục theo tuyến đường hàng Thông trăm tuổi để đến chùa. Vị trí này khiến Bửu Minh trở thành một điểm dừng tự nhiên trong hành trình kết nối Biển Hồ – Biển Hồ Chè – hàng Thông trăm tuổi – chùa Bửu Minh – Chư Đang Ya.

Điều làm nên nét riêng của Bửu Minh không chỉ nằm ở không gian thanh tịnh giữa vùng chè mà còn ở lịch sử hình thành gắn với những người lao động tại Sở Trà Biển Hồ từ những năm đầu thế kỷ XX. Từ một ngôi chùa nhỏ phục vụ nhu cầu tín ngưỡng của cộng đồng công nhân, Bửu Minh từng bước trở thành một cơ sở Phật giáo có quy mô và kiến trúc đặc sắc trên cao nguyên Pleiku.

Từ chùa Phật Học đến Bửu Minh

Lịch sử chùa Bửu Minh gắn chặt với quá trình hình thành đồn điền chè Biển Hồ.

Đầu những năm 1920, người Pháp đẩy mạnh việc lập đồn điền ở Tây Nguyên. Từ năm 1919–1920, Công ty P.I.T. (Plantation Indochinoise des Thés) xin khai khẩn vùng đất phía Bắc Biển Hồ để trồng chè. Đây được tư liệu lịch sử địa phương xác định là đồn điền đầu tiên của người Pháp trên cao nguyên Pleiku. Trụ sở Sở Trà khi đó nằm trên bờ Bắc hồ Ia Nueng, cách mặt hồ gần 2 km. Những gia đình công nhân, phần lớn là người miền Trung, sinh sống quanh đồn điền và hình thành làng Cỏ May.

Cuộc sống của những người công nhân tại vùng đất mới không dễ dàng. Điều kiện rừng núi và các loại bệnh tật khiến đời sống của cư dân đồn điền gặp nhiều khó khăn. Trong hoàn cảnh ấy, nhu cầu tìm một nơi gửi gắm niềm tin tinh thần ngày càng trở nên rõ nét.

Khoảng giữa những năm 1930, công nhân người Việt ở làng Cỏ May xin chủ đồn điền cho lập một am nhỏ dưới gốc đa cổ thụ tại lô chè số 13, cách làng khoảng 1 km về phía Đông. Am được gọi là Sơn Hải Miếu, hay Dinh Bà. Một số hoành phi và câu đối còn lưu lại trong am mang niên hiệu năm 1936, cho thấy Sơn Hải Miếu đã tồn tại ít nhất từ thời điểm này.

Cũng trong khoảng thời gian đó, ông Nguyễn Văn Khanh, một Phật tử quê Huế đang làm việc tại đồn điền, đã vận động công nhân lập chùa để có nơi lễ bái và tu tập. Sau khi được sự đồng thuận, ông lên Kon Tum thỉnh Hòa thượng Thích Từ Vân, khi đó là trụ trì chùa Bác Ái, xuống khai sơn.

Ngôi chùa được xây dựng ở đầu làng Cỏ May và mang tên chùa Phật Học. Chùa có diện tích khoảng 70 m², tường xây, mái ngói vảy, cùng phòng ở và nhà bếp nhỏ. Trong chùa có tượng Phật A Di Đà bằng gỗ mít cùng tượng Hộ Pháp và Tiêu Diện. Những năm đầu, chùa chưa có vị trụ trì thường trú, việc nhang khói do cụ Nguyễn Văn Tròn, pháp danh Đồng Thiệt, đảm nhiệm.

Những năm tháng của Sở Trà Biển Hồ

Năm 1947, chùa Phật Học bị sập. Pho tượng Phật A Di Đà được một người lái xe của đồn điền đưa về Sài Gòn. Đến năm 1949, một số Phật tử tại Sở Trà đã đòi lại được pho tượng và đưa về thờ tại Dinh Bà.

Từ đây, Sơn Hải Miếu không chỉ giữ chức năng tín ngưỡng dân gian mà còn trở thành nơi thờ Phật và là địa điểm lễ bái của cộng đồng Phật tử trong vùng. Trong thời gian Sở Trà còn thuộc quyền quản lý của chủ Pháp, việc xây dựng một ngôi chùa mới chưa được chấp thuận. Đến năm 1956, công nhân Sở Trà mới được phép mời thầy Hai Đẩu từ An Khê về nhang khói tại Dinh Bà trong thời gian chờ xây dựng chùa mới.

Năm 1960, Sở Trà được người Pháp bán lại cho công ty kinh doanh của Hoa kiều Trần Văn Thăng. Sau đó, hơn 200 Phật tử trong vùng đứng đơn xin xây dựng chùa tại khu vực Dinh Bà và được chủ mới chấp thuận.

Năm 1961, các Phật tử Sở Trà sang chùa Bửu Thắng, khi đó là chùa Tỉnh hội Phật giáo Pleiku, để xin hỗ trợ. Trụ trì Bửu Thắng là thầy Thiện Đức đã cử một nhóm Phật tử sang giúp công nhân Sở Trà xây dựng chùa. Vật liệu cũng phần lớn được tận dụng từ điều kiện tại địa phương, trong đó có gạch từ những ngôi nhà bị sập ở đồn điền Đak Đoa và gỗ khai thác tại khu vực rừng núi địa phương.

Tháng 11/1961, chùa làm lễ động thổ. Đến tháng 4/1962, công trình hoàn thành và chính thức mang tên Bửu Minh, lấy chữ đầu từ tên chùa Bửu Thắng. Lễ khánh thành có Hòa thượng Tâm Đạt cùng các vị trong Ban Đại diện Phật giáo Pleiku chứng minh.

Ngôi chùa mới được xây theo kiểu chữ Đinh, diện tích khoảng 160 m². Trên nóc có hình lưỡng long tranh châu, phần mái trang trí các mô típ giao và phụng. Năm 1963, chùa tiếp tục xây dựng nhà Thờ Tổ. Sau đó, công trình trải qua nhiều lần sửa chữa và trùng tu.

Ngôi chùa giữa vùng chè

Chùa Bửu Minh không tách khỏi cảnh quan nơi nó tọa lạc. Ngôi chùa nằm giữa vùng chè rộng lớn, mặt quay về hướng Tây, phía sau dựa vào núi Tiên Sơn. Bên trái là dòng nước chảy về hồ Ia Nueng, còn phía bên phải là dãy núi cao.

Không gian ấy tạo nên một khung cảnh rất khác với nhiều ngôi chùa nằm trong đô thị. Từ chùa, du khách có thể cảm nhận rõ không gian cao nguyên qua màu xanh của đồi chè, những dãy núi bao quanh và bầu không khí tương đối tĩnh lặng.

Cùng với quá trình phát triển của chùa, nhiều hạng mục kiến trúc và tượng thờ được bổ sung. Năm 1991, chùa tôn trí tượng Bồ Tát Quan Thế Âm lộ thiên. Năm 1994, dãy nhà Tăng và nhà trù được xây dựng. Năm 1995, vườn Lộc Uyển được kiến tạo với tượng Phật Thích Ca ngồi ngoài trời.

Chùa cũng lưu giữ nhiều tượng và pháp khí, trong đó có Đại Hồng Chung được thỉnh từ Huế về năm 1966, cùng một số tượng Phật và tượng Chămpa bằng sa thạch.

Kiến trúc mang dáng dấp cao nguyên

Từ năm 2003, chùa Bửu Minh bước vào một đợt đại trùng tu với quy mô lớn. Sau quá trình này, diện mạo ngôi chùa trở nên bề thế hơn, đồng thời hình thành phong cách kiến trúc riêng.

Chánh điện mới có diện tích khoảng 520 m². Phần mái được xử lý với những đường cong mềm mại, mang dáng dấp mái nhà rông Tây Nguyên nhưng đồng thời có những nét gợi liên tưởng đến kiến trúc chùa Nhật Bản. Tư liệu về chùa mô tả tổng thể kiến trúc là sự kết hợp giữa tinh hoa chùa cổ miền Bắc, miền Trung Việt Nam với ý tưởng kiến trúc Nhật Bản.

Một số chi tiết trang trí cũng tạo nên nét riêng cho Bửu Minh. Đầu rồng có độ cong mềm, tiếp nối là mô típ cá hóa long, gợi liên tưởng đến các góc mái của kiến trúc chùa Một Cột ở Hà Nội.

Chính sự kết hợp này khiến chùa Bửu Minh không hoàn toàn mang dáng vẻ của một ngôi chùa truyền thống miền Bắc hay miền Trung, mà hình thành một diện mạo thích ứng với không gian cao nguyên.

Những pho tượng giữa không gian thanh tịnh

Trong khuôn viên chùa có nhiều tượng Phật và Bồ Tát được tạo tác ở những thời kỳ khác nhau.

Tượng Kim Thân Phật Tổ lộ thiên cao khoảng 5 m tính cả tòa sen. Tòa sen được tạo hình với những cánh hoa mở mềm mại. Tượng Phật nằm được thực hiện năm 2006, dài khoảng 11 m, bằng bê tông cốt thép. Tư liệu mô tả dáng Phật nằm thanh thản, với nếp y mềm mại và gương mặt thể hiện vẻ hiền hòa.

Khu vực trước Sơn Hải Miếu còn có tượng Bồ Tát và một công trình bình Tịnh Thủy cao khoảng 10 m phía sau, tạo thành một không gian cảnh quan gắn giữa dấu tích tín ngưỡng cũ và không gian Phật giáo hiện nay.

Những công trình này khiến hành trình tham quan Bửu Minh không chỉ dừng lại ở việc chiêm ngưỡng kiến trúc chánh điện mà còn mở rộng sang các khu vực tượng, vườn và không gian tín ngưỡng trong khuôn viên.

Bộ Kinh Luân giữa vùng chè Biển Hồ

Một điểm nhấn mới trong khuôn viên chùa là bộ Kinh Luân được hoàn thành lắp đặt vào tháng 12/2021.

Theo tư liệu của chùa, bộ Kinh Luân gồm Đại Kinh Luân và Tiểu Kinh Luân, được chế tác bằng đồng đỏ tại Nepal. Dọc hành lang có 61 ống đồng, mỗi ống đường kính khoảng 40 cm, cao 1 m, có thể xoay quanh trục. Bên ngoài các ống được chạm nổi chân ngôn Đại Minh của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát.

Đại Kinh Luân có đường kính khoảng 2,5 m và cao 4,5 m, tạo thành điểm nhấn khá đặc biệt trong không gian chùa. Theo quan niệm Phật giáo được tư liệu giới thiệu, việc xoay Kinh Luân theo chiều kim đồng hồ mang ý nghĩa tụng niệm và hướng tâm đến sự thanh tịnh, bình an.

Bộ Kinh Luân cũng bổ sung một yếu tố mang màu sắc Phật giáo Himalaya vào tổng thể kiến trúc vốn đã có sự giao thoa giữa truyền thống Việt Nam, Nhật Bản và văn hóa Tây Nguyên.

Chùa Bửu Minh trong hành trình khám phá Biển Hồ

Với vị trí giữa vùng chè, chùa Bửu Minh có thể được kết nối thuận lợi với nhiều điểm tham quan của khu vực phía Bắc Pleiku.

Một hành trình có thể bắt đầu từ Biển Hồ, đi qua Biển Hồ Chè, tiếp tục đến hàng Thông trăm tuổi rồi ghé chùa Bửu Minh. Từ đây, du khách có thể tiếp tục hành trình về phía Chư Đang Ya.

Tuyến đường này đặc biệt ở chỗ mỗi điểm đến kể một câu chuyện khác nhau. Biển Hồ gắn với địa chất và dấu tích cư dân tiền sử, Biển Hồ Chè kể câu chuyện hơn một thế kỷ của cây chè, hàng thông tạo nên cảnh quan cổ thụ, còn Bửu Minh lưu giữ lịch sử Phật giáo gắn với cộng đồng công nhân Sở Trà.

Vì vậy, chùa Bửu Minh không chỉ là một điểm dừng chân để tham quan kiến trúc hay lễ Phật. Đây còn là một mắt xích trong câu chuyện rộng hơn về quá trình hình thành cộng đồng cư dân, đồn điền chè và đời sống văn hóa tại vùng phía Bắc Pleiku.

Một ngôi chùa kể câu chuyện của cao nguyên

Lịch sử Bửu Minh bắt đầu từ một nhu cầu rất giản dị: những người công nhân xa quê muốn có một nơi để lễ bái, tu tập và gửi gắm niềm tin. Từ chiếc am nhỏ dưới gốc đa, chùa Phật Học rồi chùa Bửu Minh lần lượt hình thành và phát triển qua nhiều thế hệ.

Ngày nay, giữa vùng chè rộng lớn, Bửu Minh mang diện mạo bề thế hơn rất nhiều so với ngôi chùa nhỏ của làng Cỏ May năm xưa. Nhưng câu chuyện về nguồn gốc ấy vẫn là phần quan trọng làm nên giá trị của ngôi chùa.

Đó là câu chuyện về những người rời quê đến vùng đất mới, về những công nhân Sở Trà, về đời sống tín ngưỡng trong một đồn điền giữa cao nguyên và về quá trình hình thành một cộng đồng Phật tử tại Pleiku.

Giữa màu xanh của những đồi chè, mái chùa Bửu Minh vì thế không chỉ là một điểm nhấn kiến trúc. Đó còn là một dấu mốc văn hóa, nơi lịch sử của Sở Trà Biển Hồ, đời sống cộng đồng và Phật giáo trên cao nguyên Pleiku gặp nhau trong cùng một không gian.

Thông tin cơ bản

Thông tin Nội dung
Tên di tích Chùa Bửu Minh
Tên cũ Chùa Phật Học
Địa điểm Thôn 1, xã Biển Hồ, tỉnh Gia Lai
Khởi nguồn Khoảng năm 1935–1936
Người vận động thành lập Ông Nguyễn Văn Khanh
Người khai sơn Hòa thượng Thích Từ Vân
Tên Bửu Minh Đặt khi xây dựng chùa mới, hoàn thành năm 1962
Gắn với Sở Trà Biển Hồ và làng Cỏ May
Đại trùng tu Bắt đầu từ năm 2003
Chánh điện hiện nay Khoảng 520 m²
Kiến trúc nổi bật Kết hợp kiến trúc chùa Việt Nam, Nhật Bản và dáng mái nhà rông Tây Nguyên
Điểm nhấn Chánh điện, tượng Phật, vườn Lộc Uyển, Sơn Hải Miếu, bộ Kinh Luân
Kinh Luân Hoàn thành lắp đặt tháng 12/2021
Không gian cảnh quan Giữa vùng chè Biển Hồ, phía sau là núi Tiên Sơn
Tuyến kết nối Biển Hồ – Biển Hồ Chè – hàng Thông trăm tuổi – Bửu Minh – Chư Đang Ya

5/5 - (1)
Xã Biển Hồ; Điểm đến
Lượt xem: 4
Bạn phải đăng nhập để gửi bình luận.

Liên hệ truyền thông 0938948549

1 result
Bạn sẽ quan tâm?:
Có thể bạn cũng quan tâm: