Tọa lạc tại số 64 Trần Phú, phường Hội An Đông, thành phố Đà Nẵng, Hội quán Dương Thương, còn được gọi là Chùa Ngũ Bang hoặc Chùa Bà, là một công trình gắn với lịch sử hình thành và phát triển của cộng đồng người Hoa tại thương cảng Hội An.
Hội quán được xây dựng từ năm 1741, với sự đóng góp của thương nhân thuộc năm bang Phúc Kiến, Triều Châu, Quảng Đông, Hải Nam và Gia Ứng. Công trình vừa là nơi hội họp, giúp đỡ nhau trong hoạt động kinh doanh, vừa là không gian tín ngưỡng chung của cộng đồng, thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu, vị nữ thần được người Hoa xem là đấng bảo hộ cho những chuyến đi biển.
Đặc biệt, trong hội quán còn lưu giữ tấm bia “Dương Thương Hội quán công nghị điều lệ”, lập năm 1744, ghi lại những điều lệ chung được các thương nhân Hoa kiều thống nhất trong quá trình sinh sống, làm ăn tại Hội An. Đây là tư liệu có giá trị trong việc tìm hiểu đời sống cộng đồng và hoạt động thương mại của người Hoa tại thương cảng cổ.
Từ Dương Thương Hội quán đến Chùa Ngũ Bang
Hội quán có tên thường gọi là Chùa Ngũ Bang, Chùa Bà, tên chữ là Trung Hoa Hội quán và Dương Thương Hội quán.
Dựa trên các tư liệu lưu trữ tại Ban Quản lý Di tích Hội An, nghiên cứu lịch sử và những văn bia còn lại, công trình được xác định xây dựng muộn nhất vào năm 1741.
Tấm bia “Dương Thương Hội quán công nghị điều lệ” lập năm 1744 ghi lại việc xây dựng hội quán và cho thấy đây là nơi sinh hoạt chung của thương nhân năm bang người Hoa gồm Phúc Kiến, Triều Châu, Gia Ứng, Quảng Đông và Hải Nam. Tại đây, những người đồng hương gặp gỡ, trao đổi thông tin và hỗ trợ nhau trong hoạt động kinh doanh tại thương cảng Hội An.
Hội quán trải qua hai đợt trùng tu lớn được tư liệu ghi nhận. Lần thứ nhất vào năm 1855, với việc sửa chữa cổng tam quan, cửa và tiền sảnh. Trong thời gian này, hội quán đổi tên thành Trung Hoa Hội quán.
Lần trùng tu thứ hai diễn ra vào năm 1928, hiện vẫn còn bia ghi dấu. Mặc dù trải qua nhiều lần sửa chữa và một số vật liệu được đưa từ Trung Quốc sang, công trình vẫn bảo tồn được bố cục mặt bằng, cảnh quan và nhiều cấu kiện kiến trúc, qua đó lưu giữ dấu ấn của thời kỳ thương nghiệp Hội An phát triển thịnh vượng.
Không gian tín ngưỡng Thiên Hậu Thánh Mẫu
Dương Thương Hội quán thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu, một vị thần có nguồn gốc từ Trung Quốc và được cộng đồng người Hoa đặc biệt tôn kính.
Trong thời kỳ Hội An phát triển mạnh mẽ với hoạt động thương mại đường biển, nhiều thương nhân người Hoa đến Hội An bằng tàu thuyền và phải đối mặt với những nguy hiểm trên biển. Theo tín ngưỡng dân gian, Thiên Hậu Thánh Mẫu là vị thần bảo hộ tàu thuyền, giúp người đi biển vượt qua sóng gió và trở về bình an.
Hầu cận Thiên Hậu là hai vị Thuận Phong Nhĩ và Thiên Lý Nhãn. Theo truyền thuyết, Thuận Phong Nhĩ có khả năng nghe được từ xa, còn Thiên Lý Nhãn có khả năng nhìn xa vạn dặm. Hai vị có nhiệm vụ phát hiện những con thuyền gặp nạn và báo cho Thiên Hậu để bà đến cứu giúp.
Hình tượng ba vị thần vì vậy gắn chặt với đời sống của những thương nhân thường xuyên di chuyển bằng đường biển, đồng thời phản ánh sự giao thoa giữa tín ngưỡng Trung Hoa và đời sống thương mại của Hội An.
Kiến trúc chữ Quốc và nghệ thuật gỗ
Hội quán Ngũ Bang được xây dựng theo kiểu chữ Quốc, quay mặt về hướng Tây Nam. Vật liệu gồm đá lát, xi măng, vôi và gỗ. Các cột, vì kèo bằng gỗ có kích thước khoảng 40 – 60 cm, đặt trên những tảng đá Non Nước.
Mái lợp ngói ống. Phần đầu ngói được tráng men xanh và trang trí hoa cúc, mang nét tương đồng với loại ngói sử dụng trong kiến trúc cung đình Nguyễn ở Huế. Các đầu hồi, mái và nóc được xây cao, kẻ chỉ nhiều tầng và trang trí bằng những mô típ như lá đề cách điệu, hoa dây, nghê và rồng.
Hai bên tiền sảnh có cổng phụ với mái lợp ngói ống.
Từ ngoài đường nhìn vào, công trình có nền cao khoảng 1 m, dẫn lên bằng hệ thống bậc cấp. Tường xây kết hợp cổng và hàng rào sắt. Bên trong tiền điện, các cột và vì kèo bằng gỗ được làm theo kiểu chồng rường giả thủ.
Các mảng chạm khắc được bố trí theo nhiều đề tài như bình phong, hoa lá và nghê. Những đầu dư được tạo hình mây cuộn, góp phần làm cho bộ khung kiến trúc trở thành một phần của nghệ thuật trang trí.
Tiền điện
Tiền điện gồm ba gian. Gian giữa rộng khoảng 5,5 m, hai gian bên rộng khoảng 2,5 m mỗi gian.
Phần cửa chính có chạm hình hai con sư tử nằm chầu. Hai cánh cửa gỗ lớn được trang trí theo đề tài tứ bình và chạm thủng thành những chuỗi lá thị nối tiếp nhau.
Toàn bộ nếp nhà gồm 13 cây cột. Hai đầu hồi sát tường có năm cột gỗ vuông đứng trên các tảng đá tròn được chạm hình giống quả bí bằng đá Non Nước.
Gian giữa có bốn cột gỗ tròn, đường kính khoảng 50 – 60 cm, cao khoảng 6,5 m, đứng trên các chân đá chạm hình quả bí.
Hệ vì kèo gian giữa cũng theo kiểu chồng rường giả thủ nhưng được chạm khắc công phu hơn. Các giả thủ có những đường cạnh dài ôm lấy rường, tạo dáng như trái Phật thủ. Xen giữa các rường lớn là những mảng chạm theo mô típ bình phong, hoa lá và bát bửu.
Các tai cột được chạm hình đầu rồng, trong khi một số tai cột khác mang hình con dơi. Sự kết hợp giữa cấu kiện chịu lực và trang trí khiến nhiều bộ phận trở nên khó tách biệt đâu là kết cấu chính, đâu là tác phẩm mỹ thuật.
Hai tấm bia ghi niên đại trùng tu hiện còn được lưu giữ ở phía tường nhà Đông.
Sân giữa, nhà Đông và nhà Tây
Sau tiền điện là một khoảng sân rộng khoảng 25 m, tạo không gian chuyển tiếp giữa tiền điện và khu chính điện.
Tại đây có một đỉnh hương lớn bằng sắt, ba chân chạm đầu rồng. Hai bên sân là nhà Đông và nhà Tây, chạy song song với chính điện.
Một số khu vực phía sau được ngăn bằng tường ngang, tạo thành các nếp nhà có cổng riêng. Các công trình này hiện có trần che nên không còn nhìn thấy toàn bộ hệ kết cấu bên trong, chỉ còn thấy các cột vuông đứng trên chân đá.
Phần hiên phía trước nhà Đông và nhà Tây có các chi tiết bằng sắt được trang trí công phu. Ở phần phía sau, các đầu dư của vì kèo được chạm hình đuôi cá.
Những công trình phụ này góp phần hoàn chỉnh bố cục chữ Quốc của toàn bộ hội quán.
Phương đình và chính điện
Nằm giữa tả vu, hữu vu là chính điện. Phần phía trước chính điện nhô ra thành một công trình dạng phương đình, có diện tích khoảng 36 m².
Phương đình gồm tám cột vuông, trong đó có hai cột đá và sáu cột gỗ, đứng trên các chân đá tròn có đế. Kiến trúc và trang trí tiếp tục sử dụng những mô típ quen thuộc như hoa lá, bát bửu và hoa dây.
Tai cột được chạm hình chim phượng và rồng cách điệu. Đặc biệt, toàn bộ diềm hiên phương đình được trang trí bằng một mảng hoa dây chạy bao quanh, tạo nên điểm nhấn mềm mại giữa hệ thống kết cấu gỗ.
Tiếp nối phương đình là chính điện dài khoảng 9 m, chia thành ba gian. Không gian được ngăn bằng hệ thống cửa khung kính, với tổng cộng 24 cây cột. Hai gian bên rộng khoảng 2,7 m, gian giữa rộng khoảng 4,9 m.
Bộ vì chính điện cũng được làm theo kiểu chồng rường giả thủ. Tuy nhiên, các tay ngai được kéo dài để đỡ đòn tay và giả thủ. Các rường được chạm hình quả đào, quả Phật thủ và quả quất.
So với tiền điện, phần kết cấu chính điện chú trọng nhiều hơn đến công năng chịu lực nên mức độ chạm trổ có phần tiết chế. Xà nóc được vẽ hình rồng, ở vị trí trung tâm là hình bát quái.
Long môn Thiên Hậu và nghệ thuật chạm trổ
Hệ thống thờ tự tại Dương Thương Hội quán có nhiều nét tương đồng với các hội quán của cộng đồng người Hoa khác tại Hội An.
Phía ngoài điện thờ đặt hai tượng Thuận Phong Nhĩ và Thiên Lý Nhãn, lần lượt ở hai bên.
Ở trung tâm là một long môn đồ sộ được chạm trổ công phu theo hình thức một cổng tam quan. Tác phẩm tập hợp nhiều đề tài truyền thống như cảnh vật, chim muông, thú vật, hoa quả, tứ bình, rồng, phượng, lân nghê, mặt trời và cảnh sinh hoạt của vua chúa.
Kỹ thuật chạm lộng và chạm thủng được sử dụng trên nhiều lớp gỗ, tạo nên những khoảng rỗng và chiều sâu đặc biệt. Toàn bộ tác phẩm được sơn son thếp vàng, tạo vẻ uy nghiêm và lộng lẫy cho không gian thờ tự.
Long môn được xem là một trong những tác phẩm tiêu biểu của nghệ thuật chạm khắc gỗ trong kiến trúc cổ Hội An.
Phía sau long môn là không gian thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu. Chính giữa là hương án chính, hai bên có thêm các hương án và bệ thờ dành cho Thiên Hậu cùng các vị thần khác.
Trong điện còn lưu giữ một chiếc thuyền buồm bằng gỗ, gợi nhắc trực tiếp đến mối liên hệ giữa tín ngưỡng Thiên Hậu và hoạt động thương mại đường biển của cộng đồng người Hoa.
Những hiện vật có giá trị
Dương Thương Hội quán hiện lưu giữ một hệ thống hiện vật phong phú, gồm tượng thờ, đồ đồng, đồ sứ, hoành phi, câu đối, bia đá và các tác phẩm chạm khắc.
Một số hiện vật tiêu biểu gồm:
- Tượng Thiên Hậu Thánh Mẫu bằng hợp chất, sơn son thếp vàng, cao khoảng 2,5 m và rộng 1,5 m.
- Hai tượng bà hầu cầm quạt, cao khoảng 1,35 m.
- Hai tượng bà dâng vải vào hộp, cao khoảng 1,35 m.
- Tượng Thiên Hậu ngồi trong lồng kính, đặt trên ngai gỗ chạm rồng, được xác định có niên đại khoảng cuối thế kỷ XVIII.
- Tượng Quan Âm ngồi trên tòa sen bằng đồng.
- Nhiều lư hương và bát hương bằng sứ trắng vẽ rồng xanh.
- Bộ tam sự bằng chì và các bộ tam sự bằng đồng.
- Mõ và chuông bằng đồng.
- Tượng Thuận Phong Nhĩ và Thiên Lý Nhãn.
- Một chiếc thuyền gỗ dài khoảng 2,95 m, có niên đại ghi theo niên hiệu Quang Tự.
- Chuông đồng có khắc chữ và niên hiệu.
- Nhiều hoành phi bằng gỗ nền đỏ, nền đen và nền vàng, phần lớn mang niên hiệu Quang Tự.
- Hai bộ câu đối bằng gỗ, trong đó có một bộ mang niên hiệu Gia Long năm thứ tám.
- Một đỉnh hương bằng sắt có ba chân chạm đầu sư tử, đường kính khoảng 119 cm.
- Nhiều bia đá ghi lại các thông tin liên quan đến lịch sử và quá trình trùng tu hội quán.
- Một khám thờ chính giữa được chạm lộng công phu theo hình thức cổng tam quan, với các đề tài chim muông, hoa lá, phượng, rồng và nghê.
Hệ thống hiện vật này góp phần tạo nên giá trị đặc biệt của Dương Thương Hội quán, đồng thời cung cấp nguồn tư liệu quan trọng cho việc nghiên cứu nghệ thuật, tín ngưỡng và lịch sử cộng đồng người Hoa tại Hội An.
Giá trị lịch sử, văn hóa và nghệ thuật
Dương Thương Hội quán góp phần làm sáng tỏ vai trò của các hội quán trong lịch sử Hội An. Việc năm bang người Hoa cùng đóng góp xây dựng một hội quán chung cho thấy mối quan hệ cộng đồng và hoạt động hỗ trợ lẫn nhau của các thương nhân trong môi trường thương cảng.
Sự hình thành của hội quán cũng gắn với thời kỳ ngoại thương Hội An phát triển mạnh, khi các cộng đồng người Hoa giữ vai trò quan trọng trong mạng lưới thương mại của đô thị cảng.
Mặc dù trải qua nhiều lần trùng tu, công trình vẫn bảo tồn được bố cục mặt bằng, cảnh quan và nhiều yếu tố trang trí nội thất truyền thống. Những giá trị này góp phần làm phong phú thêm diện mạo kiến trúc của Đô thị cổ Hội An.
Các hoạt động văn hóa, tín ngưỡng diễn ra tại hội quán cũng là nguồn tư liệu để tìm hiểu phong tục, tập quán và lễ hội của cộng đồng thương nhân người Hoa.
Đặc biệt, tấm bia “Dương Thương Hội quán công nghị điều lệ” là một tư liệu đáng chú ý, phản ánh cách cộng đồng thương nhân xây dựng những quy ước chung trong quá trình sinh sống và làm ăn tại Hội An.
Bảo tồn và phát huy giá trị di tích
Trong quá khứ, Dương Thương Hội quán từng có lễ cúng chính vào ngày 23 tháng 3 âm lịch và được ban chủ sự quản lý, bảo quản. Công trình từng được sử dụng làm nơi dạy học, với trường mang tên Lễ Nghĩa.
Sau năm 1975, Chùa Ngũ Bang được sử dụng làm cơ sở sản xuất của Hợp tác xã Mành trúc Minh An. Một số không gian bị sử dụng làm kho, phòng tiếp khách và khu sản xuất. Việc thay đổi công năng đã ảnh hưởng nhất định đến hiện trạng và những giá trị kiến trúc cổ của công trình.
Năm 1990, Hợp tác xã Mành trúc Minh An ngừng sản xuất và bàn giao lại hội quán cho Ban chủ sự quản lý. Đến tháng 10/1991, Chùa Ngũ Bang được Trường Hoa văn Lễ Nghĩa mượn làm nơi tổ chức các lớp học tiếng Hoa.
Theo tư liệu, hiện trạng công trình nhìn chung vẫn còn tốt và phần lớn phản ánh diện mạo sau đợt trùng tu năm 1928. Tuy nhiên, một số kết cấu tường và mái đã được sửa chữa bằng vật liệu mới, trong đó có những phần chưa hoàn toàn tuân thủ quy cách truyền thống do thiếu sự giám sát chuyên môn trong một số giai đoạn.
Sau khi khu phố cổ Hội An được Bộ Văn hóa công nhận vào năm 1985, công tác bảo vệ và phát huy giá trị của Dương Thương Hội quán được đặt trong tổng thể bảo tồn Đô thị cổ Hội An.
Di tích đã được đưa vào danh mục bảo vệ của Ban Quản lý Di tích từ năm 1985 và nằm trong khu vực I bảo vệ nguyên trạng của khu phố cổ Hội An, được Bộ Văn hóa xếp hạng theo Quyết định 506/VH-QĐ ngày 19/3/1985.
Ngày nay, Dương Thương Hội quán là một địa điểm có giá trị đặc biệt trong hành trình khám phá lịch sử thương cảng Hội An. Không gian thờ Thiên Hậu, những bia ký về hoạt động cộng đồng, hệ thống hiện vật và đặc biệt là nghệ thuật chạm khắc gỗ tinh xảo giúp nơi đây trở thành một phần quan trọng trong bức tranh đa văn hóa của phố cổ.
Thông tin nhanh
| Thông tin | Nội dung |
|---|---|
| Tên di tích | Dương Thương Hội quán |
| Tên thường gọi | Chùa Ngũ Bang, Chùa Bà |
| Tên chữ | Trung Hoa Hội quán, Dương Thương Hội quán |
| Địa chỉ | 64 Trần Phú, phường Hội An Đông, thành phố Đà Nẵng |
| Năm xây dựng | 1741 |
| Các cộng đồng đóng góp | Phúc Kiến, Triều Châu, Quảng Đông, Hải Nam, Gia Ứng |
| Loại hình | Hội quán |
| Thần chủ | Thiên Hậu Thánh Mẫu |
| Kiến trúc | Kiểu chữ Quốc |
| Trùng tu đáng chú ý | 1855 và 1928 |
| Điểm nổi bật | Long môn, chính điện, phương đình, bia “Dương Thương Hội quán công nghị điều lệ” |
| Lễ cúng truyền thống | Ngày 23 tháng 3 âm lịch |
| Giá trị | Lịch sử thương cảng, văn hóa người Hoa, tín ngưỡng Thiên Hậu và nghệ thuật chạm khắc gỗ |
| Bảo vệ di tích | Nằm trong khu vực I bảo vệ nguyên trạng của Đô thị cổ Hội An |










