Nghề cói Kim Sơn là một trong những nghề thủ công truyền thống tiêu biểu của tỉnh Ninh Bình, gắn bó với đời sống người dân vùng đất ven biển qua nhiều thế hệ. Từ những cánh đồng cói xanh trải dài trên vùng đất bồi đến những sản phẩm chiếu, thảm, túi xách và đồ thủ công mỹ nghệ tinh xảo, nghề cói đã trở thành biểu tượng cho sự cần cù, sáng tạo và khả năng thích nghi với thiên nhiên của cư dân Kim Sơn.
Nhắc đến Kim Sơn, du khách thường nghĩ đến Nhà thờ đá Phát Diệm, công trình kiến trúc tôn giáo nổi tiếng của Ninh Bình. Tuy nhiên, vùng đất này còn sở hữu một di sản văn hóa đặc sắc khác, đó là nghề trồng, chế biến và dệt cói truyền thống, từng tạo nên những sản phẩm được tiêu thụ rộng rãi trong nước và xuất khẩu ra nhiều quốc gia.
Năm 2025, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Quyết định số 1150/QĐ-BVHTTDL, đưa nghề thủ công truyền thống – nghề cói Kim Sơn vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Sự ghi nhận này khẳng định giá trị lịch sử, văn hóa và kỹ thuật thủ công được cộng đồng địa phương gìn giữ, trao truyền qua nhiều thế hệ.
Nguồn gốc và lịch sử phát triển nghề cói Kim Sơn
Kim Sơn là vùng đất ven biển được hình thành và mở rộng qua quá trình khai hoang, lấn biển. Trong điều kiện tự nhiên chịu ảnh hưởng của thủy triều, nước mặn và những biến động của vùng cửa biển, cây cói cùng với cây lúa đã trở thành hai loại cây trồng gắn bó mật thiết với đời sống người dân.
Theo một truyền thuyết dân gian, vào buổi chiều thu, có bảy nàng tiên đến vui chơi tại vùng cửa biển Kim Sơn. Say mê trước cảnh trời biển giao hòa, nàng tiên thứ bảy đã cắt mái tóc của mình thả xuống biển. Những sợi tóc theo sóng trôi đến các bãi bồi, rồi hóa thành những cây cói xanh mảnh mai.
Câu chuyện mang màu sắc huyền thoại ấy thể hiện cách người dân lý giải nguồn gốc cây cói và gửi gắm tình cảm đối với loài cây đã gắn bó với quê hương từ bao đời.
Trong thực tế, cây cói có khả năng sinh trưởng ở những vùng đất ẩm, chịu ảnh hưởng của nước lợ, phù hợp với điều kiện tự nhiên của Kim Sơn. Bởi vậy, cói không chỉ là nguồn nguyên liệu sản xuất mà còn được xem là biểu tượng của những thế hệ cư dân bền bỉ khai phá đất bồi, chống chọi với sóng gió và từng bước mở rộng không gian sinh sống.
Trước đây, cói được trồng xen với lúa tại nhiều khu vực. Khi cơ cấu sản xuất nông nghiệp thay đổi, diện tích trồng cói cũng được điều chỉnh để nhường chỗ cho những loại hình sản xuất khác, trong đó có trồng lúa và nuôi trồng thủy sản nước lợ.
Tuy diện tích canh tác cói có thời kỳ thu hẹp, nghề chế biến và dệt cói vẫn được người dân duy trì, phát triển thành hoạt động sản xuất thủ công có giá trị kinh tế.
Theo các tư liệu lịch sử địa phương, nghề chế biến cói tại Kim Sơn đã có từ lâu đời, ban đầu gắn với hoạt động trồng lúa, đánh bắt thủy sản và các nghề mưu sinh khác. Đến những năm đầu thế kỷ XX, nghề dệt chiếu bắt đầu được tổ chức với quy mô lớn hơn.
Trong giai đoạn này, một số người Hoa đến Kim Sơn lập nghiệp đã góp phần phát triển các xưởng dệt chiếu. Những cơ sở được nhắc đến trong tư liệu gồm xưởng Hưng Lợi tại phố Thủ Trung, Kim Chính; xưởng Xương Lợi và Quản Hòa tại phố Trì Chính; xưởng Minh Tín tại Trung Tràn và xưởng Chủ Lợi tại khu vực Hướng Đạo, Đồng Hướng.
Sự hình thành các xưởng sản xuất đã tạo điều kiện để nghề dệt chiếu Kim Sơn phát triển từ hoạt động thủ công trong gia đình thành sản xuất hàng hóa. Những đôi chiếu cói không chỉ phục vụ nhu cầu trong nước mà còn được đưa đến thị trường nước ngoài, trong đó có Pháp.
Sau năm 1954, hoạt động sản xuất tiếp tục được tổ chức lại với sự ra đời của các xí nghiệp chiếu cói Cộng Lực, Cộng Hòa và Hòa Bình, cùng những cơ sở cung cấp cói se như Trần Phú, Ái Quốc và Minh Khai. Về sau, các đơn vị này được sáp nhập thành Xí nghiệp chiếu cói Đại Đồng.
Trong những thập niên tiếp theo, sản phẩm cói Kim Sơn được xuất khẩu sang Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa trước năm 1990. Khi thị trường thay đổi, các cơ sở sản xuất tiếp tục tìm kiếm khách hàng tại châu Âu và nhiều quốc gia châu Á như Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản.
Các tư liệu về quá trình phát triển làng nghề còn ghi nhận sự hiện diện của Xí nghiệp Đại Đồng, Xí nghiệp chiếu cói Cồn Cỏ, các cơ sở Năng Động, Đổi Mới, Quang Minh, Xuân Hòa và nhiều hợp tác xã thủ công. Có thời kỳ, tổng doanh thu của các cơ sở chế biến cói trên địa bàn được ghi nhận ở mức khoảng 250 tỷ đồng mỗi năm.
Những dấu mốc này cho thấy nghề cói đã đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế và quá trình phát triển sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ của Kim Sơn.
Quy trình làm cói và nét đặc sắc trong kỹ thuật thủ công
Để tạo nên một sản phẩm cói hoàn chỉnh, người thợ Kim Sơn phải thực hiện nhiều công đoạn, từ trồng và thu hoạch nguyên liệu đến sơ chế, phơi, nhuộm màu, đan dệt và hoàn thiện sản phẩm.
Mỗi công đoạn đều đòi hỏi kinh nghiệm, sự kiên nhẫn và khả năng phối hợp khéo léo giữa đôi tay với các dụng cụ thủ công.
Cây cói được trồng trên những vùng đất phù hợp với điều kiện sinh trưởng của loài cây này. Khi đến kỳ thu hoạch, người dân cắt cói, phân loại và tiến hành sơ chế để chuẩn bị nguyên liệu cho quá trình sản xuất.
Cói sau khi thu hoạch thường được chẻ hoặc xử lý tùy theo yêu cầu của từng loại sản phẩm, sau đó đem phơi để giảm độ ẩm. Việc phơi cói cần được thực hiện cẩn thận nhằm giữ được độ dẻo, màu sắc và chất lượng nguyên liệu.
Đối với các sản phẩm có hoa văn hoặc màu sắc đa dạng, cói tiếp tục được nhuộm màu trước khi đưa vào công đoạn đan, dệt. Người thợ phải lựa chọn màu sắc và phối hợp các sợi cói sao cho hài hòa, phù hợp với mẫu thiết kế.
Trong nghề dệt chiếu truyền thống, những sợi cói được sắp xếp và đan kết trên khung dệt để tạo thành bề mặt chiếu chắc chắn, đều đặn. Người thợ cần duy trì nhịp thao tác ổn định, kiểm soát độ căng của sợi và xử lý các mép chiếu để sản phẩm có hình dáng cân đối.
Với các mặt hàng thủ công mỹ nghệ như giỏ, làn, túi xách, khay hoặc đồ trang trí, kỹ thuật chế tác có thể thay đổi theo hình dáng và công năng sử dụng. Người thợ phải biết cách tạo khung, đan kết, uốn cong và hoàn thiện từng chi tiết.
Từ những sợi cói nhỏ bé, qua quá trình lao động tỉ mỉ, các nghệ nhân có thể tạo ra những sản phẩm có hình khối phong phú, kết cấu bền chắc và hoa văn mang tính thẩm mỹ.
Bên cạnh kinh nghiệm truyền thống, sự sáng tạo trong thiết kế cũng ngày càng giữ vai trò quan trọng. Những mẫu sản phẩm mới đòi hỏi người thợ phải kết hợp kỹ thuật đan dệt lâu đời với nhu cầu sử dụng và phong cách trang trí hiện đại.
Chính sự kết hợp giữa tri thức bản địa, kỹ năng thủ công và khả năng sáng tạo đã tạo nên bản sắc riêng của nghề cói Kim Sơn.
Sản phẩm cói Kim Sơn và giá trị di sản văn hóa phi vật thể quốc gia
Từ những đôi chiếu cói quen thuộc trong đời sống người Việt, nghề cói Kim Sơn đã phát triển thành một ngành sản xuất thủ công mỹ nghệ với nhiều dòng sản phẩm đa dạng.
Trong quá khứ, chiếu cói là mặt hàng chủ lực của làng nghề. Những loại chiếu truyền thống như chiếu cải, chiếu hoa được sử dụng rộng rãi trong các gia đình, gắn với nếp sinh hoạt của nhiều thế hệ.
Cùng với sự phát triển của thị trường, người thợ Kim Sơn từng bước mở rộng sản xuất sang nhiều mặt hàng khác như thảm trải sàn, làn đi chợ, giỏ đựng đồ, khay, mũ, túi xách, đệm, đồ gia dụng và các sản phẩm trang trí nội thất.
Các sản phẩm được thiết kế với nhiều kiểu dáng, kích thước và màu sắc, vừa giữ được vẻ đẹp mộc mạc của chất liệu tự nhiên, vừa đáp ứng nhu cầu sử dụng trong đời sống hiện đại.
Ngoài cây cói, một số cơ sở thủ công tại Kim Sơn còn sử dụng những nguyên liệu thực vật khác như thân cây bèo bồng và rơm, thân lúa để sáng tạo các mặt hàng mỹ nghệ phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu.
Trong xu hướng tiêu dùng quan tâm nhiều hơn đến vật liệu có nguồn gốc tự nhiên, các sản phẩm cói có lợi thế nhờ nguyên liệu thực vật, khả năng ứng dụng đa dạng và vẻ đẹp gần gũi với thiên nhiên. Tuy nhiên, mức độ thân thiện với môi trường của từng sản phẩm còn phụ thuộc vào quy trình xử lý, nhuộm màu và hoàn thiện.
Không chỉ mang giá trị kinh tế, nghề cói Kim Sơn còn lưu giữ hệ thống tri thức và kỹ năng thủ công được tích lũy qua nhiều thế hệ. Đó là kinh nghiệm lựa chọn nguyên liệu, xử lý sợi cói, phối màu, dệt chiếu, đan lát và tạo hình sản phẩm.
Những kỹ năng này thường được truyền dạy trong gia đình, tại các cơ sở sản xuất hoặc thông qua quá trình người thợ có kinh nghiệm hướng dẫn thế hệ trẻ.
Nghề cói cũng gắn liền với lịch sử khai hoang, lấn biển và quá trình hình thành các cộng đồng cư dân Kim Sơn. Mỗi sản phẩm vì thế không chỉ là kết quả của lao động thủ công mà còn chứa đựng những giá trị văn hóa, ký ức cộng đồng và bản sắc của vùng đất ven biển.
Đặc biệt, năm 2025, nghề cói Kim Sơn được đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 1150/QĐ-BVHTTDL của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
Việc ghi danh là sự ghi nhận đối với giá trị lịch sử, văn hóa, kỹ thuật nghề và vai trò của cộng đồng trong việc gìn giữ, trao truyền di sản.
Đây cũng là cơ sở quan trọng để địa phương tiếp tục quan tâm đến công tác bảo tồn nghề truyền thống, đào tạo lao động, khuyến khích sáng tạo sản phẩm và phát huy giá trị di sản gắn với phát triển kinh tế, du lịch.
Trải nghiệm nghề cói Kim Sơn trong hành trình du lịch Ninh Bình
Kim Sơn không chỉ được biết đến với những sản phẩm cói thủ công mà còn là vùng đất có nhiều giá trị văn hóa, lịch sử và kiến trúc đặc sắc. Trong đó, Nhà thờ đá Phát Diệm là một điểm đến nổi bật, thu hút du khách bởi phong cách kiến trúc kết hợp những yếu tố truyền thống phương Đông với kiến trúc Công giáo.
Khi khám phá khu vực Kim Sơn, du khách có thể kết hợp tìm hiểu nghề cói truyền thống để có thêm góc nhìn về đời sống lao động và văn hóa của cư dân vùng đất ven biển Ninh Bình.
Tại những cơ sở sản xuất có tổ chức đón khách, du khách có thể quan sát các công đoạn chế biến cói như phơi nguyên liệu, nhuộm màu, đan lát và dệt chiếu. Một số hoạt động trải nghiệm đơn giản có thể được tổ chức dưới sự hướng dẫn của người thợ, tùy theo điều kiện thực tế của từng cơ sở.
Đây là cơ hội để người tham quan hiểu rõ hơn công sức và kỹ thuật cần thiết để tạo ra một chiếc chiếu, chiếc giỏ hay túi xách bằng cói.
Bên cạnh hoạt động tìm hiểu nghề, du khách có thể lựa chọn các sản phẩm thủ công mỹ nghệ làm quà lưu niệm. Những chiếc túi cói, giỏ đan, khay đựng đồ hoặc vật dụng trang trí vừa có tính ứng dụng, vừa mang dấu ấn của làng nghề truyền thống Kim Sơn.
Việc phát triển du lịch gắn với nghề cói có thể góp phần mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, tạo thêm việc làm và khuyến khích thế hệ trẻ tiếp tục gắn bó với nghề.
Để phát huy tiềm năng này, hoạt động du lịch làng nghề cần được tổ chức phù hợp với điều kiện sản xuất, bảo đảm trải nghiệm chân thực và tôn trọng nhịp sống của cộng đồng địa phương. Du khách nên liên hệ trước với cơ sở sản xuất nếu muốn tham quan hoặc tham gia hoạt động trải nghiệm.
Trong bối cảnh các sản phẩm thủ công truyền thống phải cạnh tranh với hàng hóa sản xuất công nghiệp, việc bảo tồn nghề cói Kim Sơn cần gắn với đổi mới thiết kế, nâng cao chất lượng, phát triển thị trường và bảo vệ nguồn nguyên liệu.
Đồng thời, việc ghi chép, truyền dạy kỹ thuật thủ công và giới thiệu lịch sử nghề đến cộng đồng cũng có ý nghĩa quan trọng trong quá trình gìn giữ di sản.
Từ những cánh đồng cói trên vùng đất bồi ven biển đến các sản phẩm thủ công được đưa tới nhiều thị trường trong và ngoài nước, nghề cói Kim Sơn đã trở thành một phần không thể tách rời của đời sống văn hóa Ninh Bình. Danh hiệu Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2025 không chỉ ghi nhận giá trị của nghề truyền thống mà còn mở ra cơ hội để cộng đồng tiếp tục bảo tồn, sáng tạo và phát huy di sản trong đời sống đương đại.
Thông tin nhanh về nghề cói Kim Sơn
| Nội dung | Thông tin |
|---|---|
| Tên di sản | Nghề cói Kim Sơn |
| Tên gọi khác | Nghề dệt cói Kim Sơn, nghề thủ công cói Kim Sơn |
| Địa điểm | Khu vực Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình |
| Địa danh tham khảo | Xã Phát Diệm, tỉnh Ninh Bình |
| Loại hình | Nghề thủ công truyền thống |
| Danh hiệu | Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia |
| Năm ghi danh | 2025 |
| Quyết định ghi danh | 1150/QĐ-BVHTTDL |
| Cơ quan ghi danh | Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch |
| Nguyên liệu chính | Cây cói |
| Sản phẩm tiêu biểu | Chiếu cói, thảm, giỏ, làn, túi xách, khay, mũ và đồ trang trí |
| Kỹ thuật đặc trưng | Trồng, thu hoạch, sơ chế, phơi, nhuộm, đan, dệt và hoàn thiện sản phẩm |
| Giá trị văn hóa | Tri thức thủ công, lịch sử khai hoang lấn biển, bản sắc cộng đồng |
| Điểm tham quan kết hợp | Nhà thờ đá Phát Diệm |
| Tiềm năng du lịch | Du lịch làng nghề, trải nghiệm thủ công và mua sắm sản phẩm địa phương |













