Đình Mõ là một di tích lịch sử, văn hóa có giá trị tại làng Đức Hậu, xã Giai Lạc, tỉnh Nghệ An. Di tích nằm ở phía Nam, trên vùng đất cao thuộc núi Tháp, trước đây thuộc phủ Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Đình là nơi thờ các vị thần Cao Sơn, Cao Các, Thượng Tướng quân Phan Ngọc Đệ, Thần khai khẩn Nguyễn Hữu Chỉ cùng các vị anh hùng có công với quê hương và đất nước.
Đình Mõ được Bộ Văn hóa – Thông tin xếp hạng Di tích lịch sử quốc gia theo Quyết định số 28/2006/QĐ-BVHTT ngày 21/2/2006.
Không chỉ có giá trị về lịch sử, Đình Mõ còn là một công trình kiến trúc và nghệ thuật truyền thống tiêu biểu. Trong thời kỳ phong trào Văn Thân, đình từng là nơi đóng quân và tập luyện của nghĩa quân do cụ Nguyễn Xuân Ôn lãnh đạo trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp. Đến những năm 1945 – 1946, đình tiếp tục trở thành địa điểm tổ chức giành chính quyền và là nơi đầu tiên mở lớp Bình dân học vụ, góp phần thực hiện phong trào xóa nạn mù chữ tại xã Giai Lạc.
Bên cạnh chức năng thờ Thành hoàng và tưởng niệm những người có công với quê hương, Đình Mõ còn là không gian sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của cộng đồng. Hằng năm, vào ngày 15 tháng Ba và ngày 15 tháng Mười Một âm lịch, nhân dân và cộng đồng vùng Yên Thành tổ chức lễ hội tại đình. Đây là dịp để cộng đồng tưởng nhớ tiền nhân, thực hành các nghi lễ truyền thống, gắn kết tình làng nghĩa xóm và thể hiện ý thức trở về với cội nguồn, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống.

Kiến trúc và nghệ thuật Đình Mõ
Di tích được bố trí trong khuôn viên rộng khoảng 4.294 m², gồm các hạng mục chính là nhà Bái đường, Hậu cung, nhà Tả vu và nhà Hữu vu. Các công trình được tổ chức hài hòa trong tổng thể kiến trúc truyền thống, tạo nên một không gian thờ tự vừa trang nghiêm vừa giàu giá trị nghệ thuật.
Nhà Bái đường có diện tích xây dựng 15,6 x 7,9 m, gồm ba gian, hai hồi và sáu vì, trong đó có bốn vì chính và hai vì hồi. Công trình chủ yếu được làm bằng gỗ lim, mái lợp ngói âm dương. Hệ thống vì kèo được kết cấu theo kiểu tam oai, kết hợp với hệ thống cột gồm 8 cột cái và 16 cột quân. Cột cái cao khoảng 3,9 m, đường kính 38 cm; cột quân cao khoảng 2,8 m, đường kính 35 cm. Các cột được đặt trên những tảng kê bằng đá xanh hình vuông, kích thước khoảng 50 x 50 cm, cao 7 cm.
Hai đầu hồi có hai cửa sổ chớp. Mặt trước nhà có 14 cánh cửa và một cửa nách. Hệ thống cửa được cấu tạo theo kiểu dóng trên, chớp dưới, pa-nô; nền thềm được lát gạch.
Kết cấu của nhà Bái đường sử dụng kỹ thuật lắp ghép bằng mộng truyền thống, tạo nên bộ khung chắc chắn nhưng vẫn thông thoáng. Bên cạnh giá trị sử dụng, công trình còn nổi bật bởi hệ thống chạm khắc gỗ phong phú. Bờ nóc và bờ giải được đắp phù điêu hình “Lưỡng long triều nguyệt”, với hình mặt trăng ở giữa và hai con rồng ở hai bên đang hướng vào mặt nguyệt. Hai đầu nóc và các đầu đao được trang trí hình bốn con nghê trong tư thế ngẩng cao đầu, tạo cảm giác chuyển động mạnh mẽ.
Nghệ thuật chạm khắc bong kênh được thể hiện trên nhiều bộ phận kiến trúc như xà, nghé, kẻ và đấu. Các đề tài trang trí mang đậm tính dân gian, được xử lý vừa khỏe khoắn vừa mềm mại. Những mảng chạm hình dơi xòe rộng đôi cánh bám vào thân kẻ ở các xà nách phía trước và phía sau không chỉ tạo điểm nhấn thẩm mỹ mà còn mang ý nghĩa biểu tượng về sự tốt lành và may mắn.
Các vì kèo trong nhà Bái đường có hệ thống đề tài chạm khắc đa dạng. Kẻ vì thứ nhất, cả mặt ngoài và mặt trong đều chạm hình long, ly, quy, phượng, trong đó nổi bật là hình chim phượng dang rộng đôi cánh. Kẻ vì thứ hai thể hiện hình rồng chầu mặt trăng ở cả hai mặt. Kẻ vì thứ ba, mặt ngoài chạm long, ly, quy, phượng và hàm thư, trong khi mặt trong thể hiện hình rồng chầu phượng múa. Kẻ vì thứ tư có mặt ngoài chạm hình rùa ẩn dưới bóng hồ sen, mặt trong trang trí hoa lá cách điệu.
Các kẻ phía sau được trang trí hình rồng phun hạt ngọc, cá vượt Vũ Môn và những con rồng uốn lượn. Toàn bộ hệ thống chạm khắc được thực hiện công phu, tỉ mỉ, các đề tài dân gian được bố trí cân đối và đăng đối. Những hình tượng như dơi, chim phượng dang cánh, rồng chầu mặt nguyệt vừa tạo vẻ sinh động cho kiến trúc, vừa thể hiện cách biểu đạt giàu tính biểu tượng của nghệ thuật dân gian truyền thống.
Từ nhà Bái đường vào Hậu cung là một khoảng sân lộ thiên dài 10,8 m, rộng 2 m. Hậu cung gồm ba gian, bốn vì kèo, tường xây bít đốc, bờ giải thẳng, bờ nóc trang trí hình rồng chầu mặt nguyệt. Ba phía công trình được xây tường, mái lợp ngói âm dương, nền lát gạch cẩm trang. Bộ khung chủ yếu làm bằng gỗ lim, kết cấu vì kèo theo kiểu thượng xông hạ kẻ, gồm 8 cột cái và 4 cột trụ.
Phía trước Hậu cung có hai cột hiên ở hai bên đầu mái, trên đó nhấn các câu đối chữ Hán theo lối chữ chân. Cột bên trái có câu “Lân khê thủy tú thiên thu tại” ở mặt trước và “Tháp lĩnh thanh sơn vạn đại như” ở mặt bên, thể hiện ý nghĩa ca ngợi vẻ đẹp bền vững của dòng nước và núi non nơi đây. Cột bên phải có câu “Phúc giáng đại đình giai thụ phủ, dân quy đức hậu lạc đồng dân”, thể hiện mong ước phúc lành đến với cộng đồng, người dân được hưởng phúc và cùng nhau vui hưởng cuộc sống.
Các cấu kiện của Hậu cung chủ yếu bằng gỗ lim, liên kết giữa xà thượng, xà hạ và rui bản bằng kỹ thuật mộng truyền thống. Mặt trước có bộ cửa gồm chín cánh bằng gỗ de sơn đỏ. Các đầu kẻ phía trước và phía sau được chạm khắc đơn giản hơn so với nhà Bái đường, chủ yếu sử dụng các đề tài rồng vờn và dây hoa cách điệu.
Gian giữa Hậu cung đặt một bàn thờ ba cấp sơn đỏ. Mặt trước bàn thờ trang trí hổ phù, rồng chầu và hoa lá cách điệu. Ở giữa đặt long ngai và bài vị thờ thần Cao Sơn, Cao Các. Hai bên long ngai có hai thanh gươm gỗ chạm hình rồng; bên trái long ngai đặt một thanh gươm gỗ dài 2,2 m.
Cấp thứ hai đặt bản chúc văn trang trí hình cá hóa rồng. Hai bên chúc văn là hai bình sứ cổ, từng được sử dụng để ủ rượu trong các dịp lễ lớn. Cấp thứ ba, cũng là cấp thấp nhất, đặt một mâm chè. Phía trước có lư hương bằng đồng cao khoảng 45 cm, đường kính 21 cm, hai bên là hai cọc sáp sơn đỏ.
Trên xà hạ của gian giữa Hậu cung treo một bức đại tự bằng gỗ sơn son thiếp vàng với ba chữ Hán “Đức quy dân”, viết theo kiểu chữ chân. Gian bên phải đặt một bàn thờ hai cấp bằng gỗ lim, xung quanh sơn đỏ, mặt trên sơn đen. Phía sau tường có bức cửa võng ghi ba chữ Hán “Kính như tại”. Một bức cửa võng khác trang trí hình rồng chầu mặt nguyệt, chính giữa ghi ba chữ Hán “Đức lưu quang”.
Nhà Tả vu gồm sáu gian, năm vì, tường xây bít đốc, diện tích xây dựng khoảng 18 m². Công trình có mái lợp ngói âm dương, kết cấu vì kèo tứ trụ kẻ chuyền. Hai gian ở hai bên xây tường, phía trước có cửa sổ và cửa ra vào, mỗi cửa gồm hai cánh đóng pa-nô. Hai đầu hồi có cửa sổ chớp, mỗi cửa gồm hai cánh.
Nhà Hữu vu cũng gồm sáu gian, năm vì, kết cấu vì kèo tứ trụ, chồng giường kẻ chuyền, mái lợp ngói âm dương. Ba phía được xây tường, hai đầu hồi có cửa sổ chớp.
Với hệ thống kiến trúc gỗ truyền thống, kỹ thuật kết cấu bằng mộng, mái ngói âm dương cùng nghệ thuật chạm khắc phong phú, Đình Mõ là một công trình có giá trị về lịch sử, kiến trúc và mỹ thuật dân gian. Các hình tượng rồng, phượng, rùa, nghê, dơi, cá hóa rồng, hoa lá và những đề tài mang tính biểu tượng được thể hiện trên nhiều cấu kiện, tạo nên diện mạo riêng cho công trình.
Đình Mõ đồng thời là nơi lưu giữ ký ức về các phong trào yêu nước, hoạt động cách mạng và đời sống văn hóa cộng đồng qua nhiều giai đoạn lịch sử. Từ nơi đóng quân, tập luyện của nghĩa quân Nguyễn Xuân Ôn trong phong trào Văn Thân, đến địa điểm giành chính quyền và mở lớp Bình dân học vụ trong những năm 1945 – 1946, di tích phản ánh một phần lịch sử đấu tranh và xây dựng đời sống mới của người dân địa phương.
Ngày nay, Đình Mõ tiếp tục giữ vai trò là không gian tín ngưỡng, sinh hoạt văn hóa cộng đồng và giáo dục truyền thống. Các lễ hội được tổ chức hằng năm góp phần duy trì mối liên kết giữa cộng đồng với di sản, đồng thời bảo tồn những giá trị văn hóa, lịch sử và nghệ thuật được hình thành qua nhiều thế hệ.
Đình Mõ đã được Bộ Văn hóa – Thông tin xếp hạng Di tích lịch sử quốc gia theo Quyết định số 28/2006/QĐ-BVHTT ngày 21/2/2006.










