Tọa lạc tại số 10 Trần Phú, phường Hội An Đông, thành phố Đà Nẵng, Hội quán Hải Nam là một trong những công trình gắn với lịch sử cộng đồng người Hoa tại Hội An. Hội quán được bang Hải Nam và Gia Ứng đóng góp xây dựng vào năm 1875, làm nơi sinh hoạt cộng đồng, hội họp đồng hương và thực hành tín ngưỡng.
Điểm đặc biệt của hội quán nằm ở tín ngưỡng thờ 108 anh linh của những thương nhân người Hoa Hải Nam bị chết oan trong một biến cố trên biển. Câu chuyện này không chỉ hình thành nên tín ngưỡng riêng của cộng đồng mà còn trở thành nền tảng tinh thần quan trọng của Hội quán Hải Nam.
Bên cạnh giá trị tín ngưỡng, công trình còn nổi bật với sự kết hợp giữa kiến trúc gỗ truyền thống, đá, bê tông cốt thép và những kỹ thuật trang trí, chạm khắc tinh xảo. Đặc biệt, long môn trong chính điện được xem là một tác phẩm nghệ thuật đặc sắc của hội quán.
Từ câu chuyện 108 anh linh đến sự hình thành hội quán
Theo truyền thuyết được lưu truyền trong cộng đồng, vào thời Nguyễn Hoàng còn làm Trấn thủ Thuận Quảng, một chiếc thuyền buôn chở 108 người gặp nạn và trôi dạt vào bờ. Do nghi ngờ những người trên thuyền là cướp biển, quan dân địa phương đã bắt và hành quyết họ.
Về sau, cộng đồng người Hải Nam tại Hội An đề xuất xem xét lại sự việc. Đến năm 1851, vua Tự Đức ban sắc giải oan và cho lập miếu thờ những người đã mất, với ý nghĩa “Nghĩa liệt chiêu cảng”.
Khi cộng đồng người Hải Nam đến Hội An buôn bán ngày càng phát đạt, họ xây dựng hội quán để làm nơi hội họp và thờ phụng 108 anh linh, lấy những người đã khuất làm thần chủ.
Hội quán được xây dựng vào năm 1875, theo tư liệu di tích, dù niên đại này vẫn được ghi chú là cần tiếp tục nghiên cứu. Công trình trải qua nhiều lần tu sửa, trong đó có một đợt trùng tu lớn vào năm 1931.
Khoảng những năm 1930, tiền điện hai tầng cùng nhà Đông và nhà Tây từng được sử dụng làm Trung Hoa Công học. Đến năm 1971, hội quán tiếp tục trải qua một đợt trùng tu lớn. Phần tiền điện được hạ xuống thành nhà một tầng, sử dụng chủ yếu vật liệu bê tông cốt thép nhưng tạo hình giả gỗ.
Hội quán thuộc loại hình di tích tôn giáo, tín ngưỡng, được xây dựng để thờ thần, thờ tiền hiền, đồng thời làm nơi sinh hoạt và hội họp của cộng đồng đồng hương.
Kiến trúc theo kiểu chữ Quốc
Hội quán Hải Nam được xây dựng theo kiểu chữ Quốc, nằm trong một khuôn viên kéo dài từ đường Trần Phú đến đường Phan Chu Trinh. Phía Đông giáp khu vực Công an thị xã theo tư liệu, phía Tây giáp khu dân cư.
Mặt tiền hướng ra đường Trần Phú, phía trước có hàng rào sắt. Hai bên là hai cổng dẫn vào sân trong qua khu vực đầu hồi của tiền điện. Cổng chính bằng sắt mở vào tiền điện thông qua hai cánh cửa gỗ lớn.
Tiền điện có hệ mái hình ống gồm ba tầng, thấp dần về hai phía. Phần kiến trúc này chủ yếu sử dụng bê tông cốt thép giả gỗ, bề mặt sơn đỏ. Các xà và cột cũng được tạo bằng bê tông cốt thép, hoàn thiện bằng lớp xi măng và sơn đỏ.
Hai bên cửa đặt hai tượng lân bằng đá. Nền được lát gạch hoa, trong khi các đường nét kiến trúc chủ yếu sử dụng những đường cong mềm mại kết hợp với các mảng hình học rõ nét. Hai bên lối đi là những khoảng vườn trồng cây cảnh.
Sau tiền điện là sân giữa được tráng xi măng, rộng khoảng 15 x 15 m. Hai bên sân là nhà Đông và nhà Tây, với bộ khung chịu lực bằng gỗ.
Các cột gỗ hình vuông có kích thước khoảng 15 x 15 cm. Hệ vì được cấu tạo bằng ba lớp rường thượng, trung và hạ, kết hợp với hệ thống trụ và các con kê theo kiểu chồng đấu. Những hoa văn trang trí được sử dụng thay cho hệ thống cột trốn, tạo thành một kết cấu vừa chịu lực vừa mang giá trị thẩm mỹ.
Các đầu dư và chi tiết liên kết tại hệ hiên cũng được xử lý bằng kỹ thuật liên kết giữa kèo và cột, tạo nên sự chuyển tiếp hài hòa giữa các bộ phận kiến trúc.
Lễ đường và chính điện
Qua sân giữa là một công trình kiến trúc theo kiểu phương đình, nối với chính điện ở một phía và mở thoáng ở ba phía còn lại. Đây là khu vực lễ đường.
Lễ đường được tạo bởi bốn hàng cột, mỗi hàng gồm hai cột gỗ lớn đặt trên các tảng đá. Hệ thống cột trực tiếp nâng đỡ phần mái thay cho cấu trúc cột kèo thông thường.
Mái lễ đường được thiết kế theo kiểu song mái, gồm mái nóc ở phía trên và mái hiên chạy quanh bốn phía ở phía dưới. Nền lễ đường cao hơn sân khoảng 50 cm, có bậc tam cấp dẫn lên.
Tiếp nối lễ đường là điện thờ chính, một nếp nhà lớn chia thành ba gian. Gian giữa nối với lễ đường thông qua hệ lan can, trong khi hai gian bên có hệ thống sáu cửa gỗ theo kiểu bức bàn, phần trên được chạm thủng.
Hệ thống cột gồm ba hàng, mỗi hàng có hai cột tròn. Các cột được liên kết bằng bốn thanh rường có kích thước ngắn dần và cao dần theo độ dốc của mái ngói. Giữa các thanh rường là những con kê được chạm hoa văn, vừa có chức năng chịu lực vừa tạo điểm nhấn trang trí.
Không gian chính điện tập trung nhiều tác phẩm chạm khắc có giá trị. Chính giữa điện thờ là một bộ thờ bằng gỗ, mặt trước có mảng chạm khắc và mạ vàng mô tả cảnh sinh hoạt của tam giới.
Phía trong long môn là bài vị của 108 anh linh. Toàn bộ long môn được chạm lộng công phu với hình ảnh chim thú, hoa trái được bố trí đan xen, tạo thành một dải trang trí lớn phía trên và hai bên khu vực thờ.
Hai bên chính điện là các ban thờ Thần Tài và Tiền Hiền.
Long môn và nghệ thuật chạm khắc
Một trong những điểm nổi bật nhất của Hội quán Hải Nam là hệ thống long môn trong chính điện.
Đây là một tác phẩm chạm lộng có mức độ tinh xảo cao, kết hợp nhiều hình tượng chim muông, hoa trái và các mô típ truyền thống. Những chi tiết được xử lý đan xen, tạo cảm giác như các hình tượng ẩn hiện trong một bức rèm gỗ.
Không gian nội thất chính điện vì vậy không chỉ phục vụ chức năng tín ngưỡng mà còn giống như một không gian trưng bày nghệ thuật chạm khắc truyền thống.
Long môn cũng có giá trị biểu tượng, phản ánh quan niệm về thế giới, con người và trật tự vũ trụ trong tư duy tín ngưỡng của cộng đồng người Hoa.
Sự kết hợp giữa gỗ, đá và các vật liệu xây dựng hiện đại trong quá trình tu sửa cho thấy sự đan xen giữa kỹ thuật truyền thống và phương pháp xây dựng mới. Đây cũng là một trong những giá trị đáng chú ý của công trình khi nghiên cứu kiến trúc Hội An qua nhiều giai đoạn.
Những hiện vật tiêu biểu
Hội quán Hải Nam hiện còn lưu giữ nhiều hiện vật phục vụ tín ngưỡng và sinh hoạt cộng đồng, trong đó có những đồ thờ và tác phẩm trang trí bằng gỗ, đồng.
Một số hiện vật tiêu biểu gồm:
- Một trống đồng và một chuông đồng loại vừa, không ghi niên đại.
- Bốn hương án, trong đó có một hương án lớn được chạm trổ công phu.
- Một bệ thờ với mảng chạm gỗ nổi phía trước, thể hiện hình tượng người và vật trong tam giới.
- Ba đôi câu đối bằng gỗ, được tạo hình và ốp theo các cột tròn.
- Hai giá lỗ bộ, gồm 16 loại binh khí nghi lễ bằng đồng, cán gỗ.
- Hai bộ tủ bằng đồng lớn.
- Tám đèn kéo quân.
- Bốn lồng đèn nan phết giấy hình cầu.
- Hai bức hoành bằng gỗ kích thước lớn.
Đặc biệt, hệ thống bàn thờ, long môn, câu đối và các mảng chạm gỗ tạo thành một tổng thể nghệ thuật thống nhất, trong đó mỗi chi tiết đều gắn với không gian tín ngưỡng của hội quán.
Lễ hội và đời sống cộng đồng
Hội quán Hải Nam không chỉ là một công trình kiến trúc mà còn là nơi duy trì sinh hoạt tín ngưỡng của cộng đồng người Hoa gốc Hải Nam.
Theo tư liệu, hằng năm người Hải Nam tại Hội An và từ nhiều nơi khác thường tụ họp với số lượng lớn để tổ chức nghi lễ vào ngày 2 tháng Giêng âm lịch. Lễ chính được tổ chức vào ngày 15 tháng 6 âm lịch.
Trước đây, các dịp lễ còn gắn với nhiều hoạt động hội hè và trò chơi dân gian, tạo nên không khí sinh hoạt cộng đồng sôi nổi. Những hoạt động này góp phần duy trì sự gắn kết giữa những người có chung nguồn gốc và tín ngưỡng.
Việc lựa chọn 108 anh linh làm thần chủ cũng cho thấy nét đặc trưng trong tín ngưỡng của cộng đồng người Hoa Hải Nam. Tín ngưỡng này không chỉ xuất hiện tại Hội An mà còn được duy trì ở nhiều nơi có cộng đồng người Hoa gốc Hải Nam sinh sống.
Giá trị lịch sử, nghệ thuật và bảo tồn
Hội quán Hải Nam là một tư liệu quan trọng để tìm hiểu lịch sử thương cảng Hội An cũng như lịch sử cộng đồng người Hoa tại đô thị cổ này.
Việc hội quán được xây dựng để thờ thần, thờ tiền hiền và làm nơi hội họp đồng hương phản ánh rõ đời sống xã hội của cộng đồng người Hải Nam. Riêng câu chuyện về 108 anh linh đã cho thấy mối liên hệ giữa tín ngưỡng, lịch sử cộng đồng và hoạt động thương mại đường biển.
Về kiến trúc, công trình cung cấp nhiều tư liệu để nghiên cứu sự kết hợp giữa gỗ và đá, vật liệu bê tông cốt thép với kỹ thuật kết cấu truyền thống, cũng như quá trình chuyển tiếp giữa kiến trúc cổ truyền và những phương pháp xây dựng hiện đại hơn.
Đặc biệt, hệ thống long môn và các mảng chạm khắc trong chính điện thể hiện trình độ nghệ thuật cao, đồng thời phản ánh những quan niệm văn hóa và tín ngưỡng được cộng đồng lưu giữ qua nhiều thế hệ.
Trong nhiều thời kỳ, hội quán luôn có người trông nom và duy trì hoạt động. Trước các dịp lễ, Tết, công trình thường được sửa chữa nhỏ, quét vôi và sơn phết để giữ gìn diện mạo.
Ban Trị sự Hội quán Hải Nam gồm năm người, chịu trách nhiệm điều hành các hoạt động chung. Từ cuối thập niên 1980, hội quán tiếp tục được cộng đồng người Hoa gốc Hải Nam sử dụng làm nơi sinh hoạt và thờ cúng.
Hội quán nằm trong khu vực I bảo vệ nguyên trạng của Khu phố cổ Hội An, thuộc tổng thể di tích đã được Bộ Văn hóa công nhận theo Quyết định số 506/QĐ-VH. Việc bảo tồn công trình vì vậy không chỉ nhằm gìn giữ một hội quán của cộng đồng người Hoa mà còn góp phần bảo vệ tính đa dạng văn hóa của đô thị cổ Hội An.
Ngày nay, Hội quán Hải Nam là một điểm đến giàu giá trị đối với những ai muốn tìm hiểu về lịch sử thương cảng, cộng đồng người Hoa, tín ngưỡng dân gian và nghệ thuật kiến trúc truyền thống tại Hội An.
Thông tin nhanh
| Thông tin | Nội dung |
|---|---|
| Tên di tích | Hội quán Hải Nam |
| Địa chỉ | Số 10 Trần Phú, phường Hội An Đông, thành phố Đà Nẵng |
| Cộng đồng | Người Hoa bang Hải Nam và Gia Ứng |
| Năm xây dựng | 1875, theo tư liệu di tích |
| Loại hình | Hội quán, di tích tôn giáo và tín ngưỡng |
| Thần chủ | 108 anh linh thương nhân Hoa kiều |
| Kiến trúc | Kiểu chữ Quốc |
| Điểm nổi bật | Chính điện, lễ đường, long môn, hệ thống chạm khắc gỗ |
| Trùng tu lớn | 1931 và 1971 |
| Lễ lớn | Ngày 2 tháng Giêng và 15 tháng 6 âm lịch |
| Giá trị | Lịch sử thương cảng, văn hóa người Hoa, kiến trúc và nghệ thuật truyền thống |










