Nghề trồng rau Trà Quế

Nằm bên dòng sông Để Võng hiền hòa, làng rau Trà Quế từ lâu đã trở thành một trong những làng nghề truyền thống đặc sắc của Hội An. Không chỉ nổi tiếng với những luống rau xanh mướt, hương vị thơm nồng và phương pháp canh tác độc đáo, Trà Quế còn lưu giữ kho tàng tri thức dân gian được nhiều thế hệ cư dân vun đắp trong suốt hơn 300 năm.

Điểm làm nên sự khác biệt của rau Trà Quế chính là sự kết hợp giữa điều kiện thổ nhưỡng, nguồn rong tự nhiên từ sông và đầm, các giống rau bản địa cùng kinh nghiệm chăm sóc được truyền lại qua nhiều đời. Từ những loại rau gia vị quen thuộc như húng, é, hành, hẹ đến các loại cải và rau ăn lá, mỗi sản phẩm đều mang dấu ấn của vùng đất sông nước và bàn tay cần mẫn của người nông dân.

Ngày 4/4/2022, Nghề trồng rau Trà Quế được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 784/QĐ-BVHTTDL, thuộc loại hình Tri thức dân gian và Nghề thủ công truyền thống. Đây là sự ghi nhận đối với những giá trị văn hóa, kỹ thuật canh tác và truyền thống lao động được cộng đồng Trà Quế gìn giữ qua nhiều thế hệ.

Làng rau Trà Quế và không gian văn hóa ven sông Để Võng

Làng rau Trà Quế trước đây thuộc xã Cẩm Hà, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam, nay thuộc phường Hội An Tây, thành phố Đà Nẵng. Nằm cách trung tâm Hội An khoảng 2,5 km về phía Bắc, ngôi làng được bao bọc bởi sông Để Võng và đầm Trà Quế, tạo nên một không gian nông nghiệp mang đậm đặc trưng vùng cửa sông.

Nhìn từ trên cao, Trà Quế hiện lên với những thửa rau được chia thành luống ngay ngắn, xen giữa là đường làng, nhà dân và hệ thống mương dẫn nước. Cảnh quan ấy không chỉ phản ánh hoạt động sản xuất nông nghiệp mà còn thể hiện cách cư dân tổ chức không gian sống phù hợp với điều kiện tự nhiên.

Trà Quế là vùng đất có lịch sử cư trú lâu đời. Những dấu tích khảo cổ thuộc văn hóa Sa Huỳnh cách đây khoảng 2.000 năm, cùng các di tích như miếu Bà Yàng, giếng đá cổ và những dấu ấn văn hóa Chăm, cho thấy chiều sâu lịch sử của khu vực. Về sau, các thế hệ cư dân Việt tiếp tục khai phá, lập làng, hình thành những thiết chế tín ngưỡng và nghề nghiệp truyền thống.

Theo tư liệu nghiên cứu về làng nghề, hơn 300 năm trước, những cư dân thuộc các tộc Phạm, Mai, Nguyễn và Lê đã đến định cư tại Trà Quế; sau đó có thêm các tộc Trần và Hồ. Ban đầu, người dân chủ yếu sinh sống bằng nghề đánh bắt cá, tôm trên sông. Trong quá trình tìm kiếm thực phẩm, họ phát hiện một số loại rau có thể kết hợp với tôm, cua, cá để chế biến thành những món ăn ngon, từ đó mang giống về trồng quanh nơi cư trú.

Những vạt rau ban đầu dần được mở rộng. Cư dân khai phá thêm đất, trồng ngò, rau húng, rau é, hành, cải, hẹ và nhiều loại rau khác. Nhờ đất đai phù hợp cùng kinh nghiệm chăm bón, rau sinh trưởng tốt, có hương vị riêng và dần trở thành sản phẩm nổi tiếng của vùng đất Hội An.

Hơn 300 năm hình thành và phát triển nghề trồng rau

Trong lịch sử, địa danh Trà Quế còn được ghi nhận hoặc lưu truyền dưới những tên gọi như Nhự Quế, Thanh Quế và Nhà Quế.

Theo một câu chuyện dân gian, vào khoảng thế kỷ XVIII, có một vị vua đi thuyền trên sông Đế Võng và ghé thăm làng. Sau khi thưởng thức một loại rau có hương thơm tựa trà và vị cay gợi nhớ quế, nhà vua đã đặt tên vùng đất là Trà Quế. Đây là truyền thuyết địa phương, phản ánh cách người dân lý giải tên gọi gắn với hương vị rau của quê hương.

Trong địa bạ Thanh Hà lập vào năm Gia Long thứ 17 (1818), tên gọi Trà Quế hoặc Nhà Quế đã xuất hiện. Điều này cho thấy địa danh đã được sử dụng muộn nhất từ đầu thế kỷ XIX.

Đến những năm 1943 – 1944, tài liệu Quảng Nam xã chí của Viện Viễn Đông Bác cổ ghi nhận rau sống là một trong những sản vật đáng chú ý của làng Thanh Hà. Bên cạnh các nghề làm gạch, ngói, gốm và đánh bắt cá, hoạt động trồng rau đã có vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế địa phương.

Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Trà Quế còn là địa bàn gắn với hoạt động cách mạng của cư dân Cẩm Hà và Hội An. Theo tư liệu địa phương, ban ngày người dân sản xuất rau, ban đêm đào hầm và nuôi giấu cán bộ. Những gánh rau không chỉ góp phần duy trì cuộc sống gia đình mà còn phục vụ nhu cầu hậu cần trong thời chiến.

Sau năm 1975, người dân từng bước cải tạo đất đai, khôi phục sản xuất và phát triển nghề rau truyền thống. Đến năm 2001, chính quyền Hội An quy hoạch khu vực sản xuất rau tập trung với diện tích khoảng 15 ha, tạo điều kiện tổ chức lại hoạt động canh tác và phát triển kinh tế làng nghề.

Theo số liệu trong các báo cáo địa phương được trích dẫn từ giai đoạn trước, làng rau từng có 207 hộ chuyên trồng rau với 345 lao động, diện tích canh tác được cải tạo lên khoảng 18 ha. Riêng năm 2018, sản lượng rau được ghi nhận đạt 792 tấn, với giá trị sản xuất khoảng 10,73 tỷ đồng. Đây là những số liệu phản ánh quy mô làng nghề tại thời điểm thống kê, không phải tình hình hiện tại.

Qua nhiều biến động lịch sử, nghề trồng rau vẫn được duy trì, trở thành một phần quan trọng trong đời sống kinh tế và bản sắc văn hóa của cộng đồng Trà Quế.

Tri thức canh tác truyền thống và bí quyết tạo nên hương vị rau Trà Quế

Giá trị nổi bật của nghề trồng rau Trà Quế nằm ở hệ thống tri thức dân gian được tích lũy trong toàn bộ quá trình sản xuất, từ lựa chọn và bảo quản giống, chuẩn bị đất, gieo trồng, chăm sóc đến thu hoạch và tiêu thụ sản phẩm.

Người dân đặc biệt chú trọng đặc điểm thổ nhưỡng, nguồn nước và độ ẩm của đất. Các luống rau được chăm sóc cẩn thận, kết hợp kinh nghiệm quan sát thời tiết và chu kỳ sinh trưởng của từng loại cây để điều chỉnh phương pháp canh tác phù hợp.

Một nét đặc trưng của nghề là sử dụng rong tự nhiên khai thác từ đầm Trà Quế và sông Để Võng để làm nguồn phân xanh bổ sung dinh dưỡng cho đất. Qua nhiều thế hệ, cư dân đã tích lũy kinh nghiệm sử dụng nguồn nguyên liệu này trong quá trình cải tạo đất và chăm bón rau.

Theo kinh nghiệm của người trồng rau, sự kết hợp giữa đất đai, nguồn phân xanh và kỹ thuật chăm sóc góp phần tạo nên đặc điểm riêng của rau Trà Quế. Nhiều loại rau có lá nhỏ, dày, thân thấp và cứng cáp, hương thơm rõ, vị đậm đà nhưng khi ăn vẫn mềm, dịu.

Rau Trà Quế cũng được đánh giá cao nhờ sự đa dạng về hương vị. Khi kết hợp nhiều loại rau trong cùng một món ăn, thực khách có thể cảm nhận sự hòa quyện của năm vị cay, ngọt, đắng, chua và chát. Việc lựa chọn loại rau và điều chỉnh tỷ lệ sử dụng phụ thuộc vào kinh nghiệm chế biến, đặc điểm món ăn và khẩu vị của từng gia đình.

Đằng sau những luống rau xanh là quá trình lao động tỉ mỉ, từ chuẩn bị đất, chọn giống đến theo dõi sự phát triển của cây. Những kỹ năng ấy không chỉ thuộc về từng cá nhân mà được hình thành, bổ sung và chia sẻ trong cộng đồng, tạo nên một hệ thống tri thức nghề nghiệp mang tính tập thể.

Giống rau bản địa và kinh nghiệm bảo tồn nguồn giống

Một trong những đặc điểm quan trọng nhất của nghề trồng rau Trà Quế là việc duy trì các giống cây bản địa qua nhiều thế hệ.

Theo tư liệu, làng rau từng trồng khoảng 55 loại rau khác nhau. Trong quá trình phát triển, một số giống như hành hương, rau diếp, xà lách son và rau húng dài không còn được duy trì tại thời điểm khảo sát, trong khi nhiều giống khác tiếp tục được bảo tồn và phát triển.

Đối với các loại rau nhân giống bằng hạt, người dân thường chú trọng những hạt nhỏ, chắc và có chất lượng tốt. Với các loại rau trồng bằng nhánh hoặc cành, đặc điểm được quan tâm là thân cây nhỏ, cứng cáp, có mùi thơm đặc trưng và khả năng thích nghi với điều kiện địa phương.

Việc bảo tồn giống truyền thống không chỉ đơn thuần là lưu giữ hạt giống hoặc cây giống. Người trồng còn phải nắm vững thời điểm lấy giống, phương pháp bảo quản, cách nhân giống và kỹ thuật chăm sóc để duy trì những đặc tính mong muốn.

Các giống rau bản địa được người dân coi trọng bởi hương vị quen thuộc, khả năng thích nghi với thổ nhưỡng, mức độ chống chịu sâu bệnh và năng suất tương đối ổn định trong điều kiện canh tác phù hợp.

Qua nhiều đời, kinh nghiệm bảo tồn nguồn giống đã trở thành một phần của tri thức dân gian Trà Quế. Đây cũng là yếu tố góp phần tạo nên sự khác biệt giữa nghề trồng rau truyền thống của địa phương với những hình thức sản xuất rau thông thường.

Rau Trà Quế trong văn hóa ẩm thực Hội An

Rau Trà Quế không chỉ là sản phẩm nông nghiệp mà còn gắn bó mật thiết với văn hóa ẩm thực của Hội An và vùng đất Quảng Nam.

Những loại rau như húng, é, cải con, hẹ và các loại rau gia vị khác thường xuất hiện trong bữa cơm gia đình, đồng thời góp phần tạo nên hương vị của nhiều món ăn truyền thống.

Trong đó, món tam hữu là một đặc sản gắn với làng rau Trà Quế, thường kết hợp tôm, thịt và rau thơm. Hương vị rau tươi cũng góp phần làm phong phú các món ăn quen thuộc như mì Quảng, cao lầu, bánh xèo và ram cuốn.

Với người dân địa phương, việc lựa chọn rau phù hợp cho từng món ăn là một kinh nghiệm ẩm thực được tích lũy qua nhiều thế hệ. Rau không chỉ dùng để ăn kèm mà còn góp phần cân bằng mùi vị, tạo độ tươi và làm nổi bật hương vị của nguyên liệu chính.

Trong kinh nghiệm dân gian, một số loại rau thơm còn được sử dụng như cây thuốc trong những cách chăm sóc sức khỏe truyền thống. Tuy nhiên, những công dụng này thuộc phạm vi kinh nghiệm dân gian, không thay thế cho các phương pháp điều trị y khoa.

Sự gắn kết giữa nghề trồng rau và văn hóa ẩm thực đã góp phần đưa Trà Quế trở thành một địa danh quen thuộc trong hành trình khám phá hương vị Hội An.

Trải nghiệm làng rau Trà Quế và gìn giữ di sản trong đời sống đương đại

Ngày nay, làng rau Trà Quế không chỉ được biết đến như một vùng sản xuất rau truyền thống mà còn là điểm đến gắn với du lịch nông nghiệp và trải nghiệm văn hóa địa phương.

Không gian những luống rau xanh, đường làng yên bình và hoạt động lao động thường ngày tạo điều kiện để du khách tìm hiểu một phương thức canh tác được gìn giữ qua nhiều thế hệ.

Tùy chương trình và điều kiện tổ chức, du khách có thể tham quan khu vực trồng rau, quan sát cách người dân chuẩn bị đất, gieo trồng, tưới nước và chăm sóc cây. Một số hoạt động trải nghiệm còn giới thiệu cách sử dụng rau Trà Quế trong chế biến món ăn truyền thống của Hội An.

Những trải nghiệm này giúp du khách hiểu rằng giá trị của làng rau không chỉ nằm ở sản phẩm thu hoạch mà còn ở tri thức sản xuất, văn hóa lao động và sự gắn bó giữa cư dân với môi trường tự nhiên.

Tuy nhiên, quá trình phát triển du lịch cũng đặt ra yêu cầu bảo tồn không gian canh tác, duy trì nguồn giống truyền thống và bảo đảm vai trò của người nông dân trong hoạt động giới thiệu di sản.

Việc kết hợp sản xuất nông nghiệp với du lịch cần hướng đến gìn giữ cảnh quan, bảo vệ môi trường, tôn trọng nhịp sống cộng đồng và tạo nguồn thu phù hợp cho những hộ gia đình tiếp tục gắn bó với nghề.

Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia

Ngày 4/4/2022, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Quyết định số 784/QĐ-BVHTTDL, đưa Nghề trồng rau Trà Quế vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, thuộc loại hình Tri thức dân gian và Nghề thủ công truyền thống.

Việc ghi danh khẳng định những giá trị được cộng đồng Trà Quế tích lũy và truyền lại qua nhiều thế hệ, đặc biệt là kinh nghiệm lựa chọn giống, sử dụng nguồn phân xanh từ rong tự nhiên, kỹ thuật chăm sóc và bảo tồn các giống rau bản địa.

Di sản còn phản ánh quá trình hình thành làng xã, lịch sử lao động sản xuất và sự gắn bó của cư dân với vùng đất ven sông Để Võng.

Từ những vạt rau nhỏ phục vụ bữa ăn gia đình đến một làng nghề nổi tiếng gắn với văn hóa ẩm thực và du lịch Hội An, nghề trồng rau Trà Quế đã trải qua hành trình phát triển lâu dài. Những luống rau xanh hôm nay không chỉ mang lại sinh kế mà còn tiếp tục lưu giữ ký ức, kinh nghiệm và bản sắc văn hóa của một cộng đồng cư dân vùng sông nước.

Thông tin cơ bản

Hạng mục Thông tin
Tên di sản Nghề trồng rau Trà Quế
Địa điểm Phường Hội An Tây, thành phố Đà Nẵng
Địa danh trước đây Xã Cẩm Hà, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam
Vị trí Cách trung tâm Hội An khoảng 2,5 km về phía Bắc
Không gian văn hóa Làng Trà Quế, sông Để Võng và đầm Trà Quế
Lịch sử nghề Hơn 300 năm theo tư liệu địa phương
Sản phẩm tiêu biểu Rau húng, rau é, cải con, hẹ và các loại rau gia vị
Đặc trưng canh tác Giống bản địa, kinh nghiệm truyền thống, sử dụng rong tự nhiên làm phân xanh
Giá trị nổi bật Tri thức dân gian, bảo tồn giống rau, văn hóa ẩm thực và sinh kế cộng đồng
Loại hình di sản Tri thức dân gian, Nghề thủ công truyền thống
Danh hiệu Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia
Quyết định công nhận 784/QĐ-BVHTTDL
Ngày công nhận 04/4/2022

5/5 - (1)

Liên hệ truyền thông 0938948549

1 result
Bạn sẽ quan tâm?:
Có thể bạn cũng quan tâm: