Lăng Ông Ngư nằm giữa khu dân cư Xóm Đình, thuộc thôn Bãi Làng, xã Tân Hiệp, Cù Lao Chàm. Đây là một công trình tín ngưỡng gắn với tục thờ cá Ông, một tín ngưỡng lâu đời của cư dân làm nghề biển miền Trung Việt Nam. Đối với ngư dân Cù Lao Chàm, cá Ông được xem là vị thần biển có lòng nhân từ, thường cứu giúp những người gặp nạn giữa biển khơi.
Lăng được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ XIX để thờ cá Ông và các vị thần phù trợ cho cư dân vùng biển. Công trình được xây dựng theo kiến trúc truyền thống, có mái cuốn vòm thấp, hậu tẩm, mái ngói âm dương và nhiều đề tài trang trí mang ý nghĩa linh thiêng. Di tích được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia năm 2006.
Vị trí và đường đến
Lăng Ông Ngư nằm giữa khu dân cư Xóm Đình, thôn Bãi Làng, xã Tân Hiệp. Công trình cách bờ biển khoảng 10 m, phía sau dựa vào núi và mặt trước hướng ra biển.
Từ bến đò Bãi Làng, đi theo đường bê tông ven biển về hướng Đông Nam khoảng 60 m, sau đó rẽ vào con kiệt bên phải khoảng 6 đến 7 m là đến di tích.
Tín ngưỡng thờ cá Ông của cư dân Cù Lao Chàm
Tục thờ cá Ông có lịch sử lâu đời trong cộng đồng ngư dân ven biển miền Trung. Theo quan niệm dân gian, cá Ông là vị thần biển có nhân tính, thường xuất hiện để cứu giúp những người gặp tai nạn, bão tố hoặc hiểm nguy giữa biển.
Khi phát hiện cá Ông lụy, cách gọi dân gian đối với cá Ông chết hoặc trôi dạt vào bờ, ngư dân có trách nhiệm tổ chức tang lễ theo nghi thức truyền thống, sau đó mai táng và đưa xương về lăng để thờ phụng.
Tại Cù Lao Chàm, khi phát hiện cá Ông lụy, người dân thường đưa về mai táng tại Bãi Ông, nơi có bãi biển thoải và quỹ đất thuận lợi. Sau khoảng ba năm, xương cá Ông được khai quật, dùng rượu làm sạch rồi rước về Lăng Ông để thờ.
Tín ngưỡng này từng được nhà nước phong kiến Việt Nam công nhận. Cá Ông được nhiều lần sắc phong và gia tặng mỹ tự “Nam Hải Cự Tộc Ngọc Lân tôn thần”, đồng thời các cộng đồng ngư dân được tạo điều kiện lập lăng, miếu để thờ phụng.
Theo Đại Nam nhất thống chí, Cù Lao Chàm từng có nhiều nơi thờ các vị thần liên quan đến biển, trong đó có Ngọc Lân, Thành Hoàng, Chúa Lồi, Bạch Mã, Ngũ Hành và các vị Phục Ba Tướng quân. Trong số đó, Ngọc Lân thần từ được tư liệu liên hệ với Lăng Ông Ngư Cù Lao Chàm, nơi thờ Nam Hải Cự Tộc Ngọc Lân tôn thần.
Lễ cầu ngư và hát bả trạo
Hằng năm, trước khi chuẩn bị ra khơi đánh bắt vụ Nam, ngư dân Cù Lao Chàm tổ chức lễ cúng tại Lăng Ông, gọi là lễ cầu ngư. Đây là nghi lễ quan trọng của cộng đồng cư dân làm nghề biển, với sự tham gia của đông đảo ngư dân trên đảo.
Bên cạnh các nghi thức tế lễ, lễ cầu ngư còn có hát bả trạo, được người dân địa phương gọi là hát bạn chèo. Đây là hình thức diễn xướng trong đó người tham gia vừa hát vừa cầm mái chèo, mô phỏng động tác chèo thuyền và đời sống của người đi biển. Hình thức này khác với nghệ thuật hát chèo truyền thống ở miền Bắc.
Lễ cầu ngư thường diễn ra trong hai ngày. Ngày đầu là thời gian chuẩn bị, trang trí và sắp đặt lễ nghi trong lăng. Buổi tối tiến hành lễ túc, còn gọi là lễ cáo yết hoặc lễ tiên thường.
Ngày hôm sau diễn ra lễ nghinh thần. Một kiệu thần được đặt trên thuyền lớn, trang trí cờ hoa và cờ hội. Chiêng trống, đội nhạc cùng các nghi thức truyền thống được sử dụng để tạo không khí trang trọng cho đoàn nghinh thần.
Sau khi nghinh thần trở về, cộng đồng tiến hành lễ cúng âm linh và cầu an. Sau đó là lễ tế Ông Ngọc Lân Nam Hải với ba phần chính gồm sơ hiến lễ, á hiến lễ và chung hiến lễ. Các nghi thức có xướng tế, đọc văn tế và đi gia lễ.
Sau phần tế lễ thường là hát bả trạo. Theo tư liệu, trước đây cộng đồng còn tổ chức hát bội kéo dài từ sáu đến bảy ngày.
Thành phần tham dự chủ yếu gồm các bậc cao tuổi, cư dân địa phương và ngư dân từ những vùng lân cận. Sau lễ cầu ngư, cộng đồng tổ chức các hoạt động vui chơi, thể thao như đua thuyền, lắc thúng chai và kéo co.
Thông qua lễ cầu ngư và hát bả trạo, cư dân gửi gắm mong ước làng xóm bình yên, người ra khơi được thuận buồm xuôi gió và có những chuyến biển thuận lợi, đánh bắt được nhiều hải sản.
Kiến trúc Lăng Ông Ngư
Lăng Ông Ngư nằm giữa khu dân cư, cách biển khoảng 10 m, lưng dựa vào núi và mặt hướng ra biển theo quan niệm phong thủy truyền thống.
Công trình được xây bằng vôi, gạch và san hô, với kiểu mái cuốn vòm thấp. Phía sau có hậu tẩm, nơi đặt các hòm xương cá Ông. Mái lợp ngói âm dương và được trang trí bằng nhiều đề tài truyền thống.
Bờ nóc phía trước trang trí hình lưỡng long triều dương. Bờ nóc của nếp nhà thứ hai có hình chim phượng. Hai đầu hồi đắp hình lân, trong khi phần mái còn có đề tài quy thư.
Không gian nội thất tương đối rộng, gồm hai nếp nhà, mỗi nếp ba gian. Gian giữa nối với hậu tẩm và là nơi đặt các hòm xương cá Ông. Trên bệ thờ có 13 bài vị bằng gỗ sơn son thếp vàng, ghi thần hiệu của các vị cá Ông như Nam Hải Cự Tộc Ngọc Lân Đại Tướng Quân, Nam Hải Cự Tộc Ngọc Lân Ông Mực tôn thần và Nam Hải Cự Tộc Ngọc Lân Ông Hổ tôn thần.
Phía trước hậu tẩm có án thờ bằng gạch để đặt lễ vật trong những ngày cúng kỵ. Hai gian bên dành cho việc thờ các vị tả hữu ban, thị tùng và bộ hạ.
Cách lăng khoảng 7 m về phía trước là một bình phong dạng cuốn thư. Mặt trước bình phong đắp nổi hình hổ, trong khi mặt sau trang trí hình cá chép uốn lượn.
Những hiện vật tiêu biểu
Hiện vật quan trọng nhất còn được lưu giữ tại Lăng Ông Ngư là 13 bài vị gỗ sơn son thếp vàng, được chạm khắc và ghi thần hiệu của các vị cá Ông được cộng đồng thờ phụng.
Hệ thống bài vị phản ánh sự phong phú của tín ngưỡng thờ cá Ông tại Cù Lao Chàm và vai trò của biển cả trong đời sống tinh thần của cư dân địa phương.
Giá trị lịch sử và văn hóa
Lăng Ông Ngư là minh chứng cho sự phong phú của đời sống văn hóa, tín ngưỡng của cư dân Cù Lao Chàm. Di tích đặc biệt phản ánh tín ngưỡng của cộng đồng làm nghề sông nước, trong đó biển vừa là môi trường sinh tồn vừa là không gian chứa đựng nhiều yếu tố tâm linh.
Tín ngưỡng thờ cá Ông thể hiện niềm tin và sự biết ơn của ngư dân đối với vị thần biển được cho là đã cứu giúp con người trong những lúc hiểm nguy. Các nghi lễ cầu ngư, nghinh thần, tế Ông và hát bả trạo đồng thời tạo nên một không gian sinh hoạt cộng đồng, nơi các thế hệ cùng duy trì những tập tục gắn với nghề biển.
Về kiến trúc, Lăng Ông Ngư góp phần làm phong phú hệ thống công trình tôn giáo, tín ngưỡng trên xã đảo Tân Hiệp, đồng thời bổ sung một loại hình di tích đặc trưng của cư dân vùng biển vào quần thể di sản Cù Lao Chàm.
Bảo tồn di tích
Do nằm gần biển và từng không có người thường xuyên trông coi, di tích đã có thời điểm xuống cấp với tình trạng tường vôi bong hỏng, mái dột, tường nứt, nhiều chi tiết trang trí trên mái bị gãy nát và một số mặt bên bị lấn chiếm.
Năm 1997, cán bộ chuyên môn của Trung tâm Quản lý Di tích Hội An đã tiến hành khảo sát, đánh giá giá trị và lập hồ sơ bước đầu cho di tích. Công tác đo vẽ, khoanh vùng bảo vệ và hoàn thiện hồ sơ khoa học tiếp tục được thực hiện nhằm phục vụ công tác bảo tồn lâu dài.
Lăng Ông Ngư được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia năm 2006, khẳng định giá trị của công trình trong hệ thống di sản văn hóa của Cù Lao Chàm.
Thông tin nhanh
| Hạng mục | Thông tin |
|---|---|
| Tên di tích | Lăng Ông Ngư |
| Đối tượng thờ | Cá Ông, Nam Hải Cự Tộc Ngọc Lân tôn thần và các vị thần phò tá |
| Địa điểm | Xóm Đình, thôn Bãi Làng, xã Tân Hiệp, Cù Lao Chàm |
| Niên đại | Khoảng cuối thế kỷ XIX |
| Loại hình | Di tích tín ngưỡng |
| Kiến trúc | Mái cuốn vòm thấp, hậu tẩm, mái ngói âm dương |
| Trang trí nổi bật | Lưỡng long triều dương, phượng, lân, quy thư, bình phong Thần Ngư hí nguyệt |
| Hiện vật tiêu biểu | 13 bài vị cá Ông bằng gỗ sơn son thếp vàng |
| Nghi lễ tiêu biểu | Lễ cầu ngư, nghinh thần, tế Ông, hát bả trạo |
| Xếp hạng | Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia, năm 2006 |
| Đường đến | Từ bến đò Bãi Làng đi khoảng 60 m theo đường ven biển, rẽ vào kiệt khoảng 6-7 m |










