Miếu Tổ nghề Yến Cù Lao Chàm

Miếu Tổ nghề Yến tọa lạc tại Bãi Hương, thuộc xã đảo Tân Hiệp, Cù Lao Chàm, là công trình tín ngưỡng gắn với lịch sử hình thành và phát triển nghề khai thác yến sào ở vùng biển Hội An. Di tích vừa là nơi thờ các bậc tiền hiền, những người có công khai sáng và truyền nghề, vừa phản ánh đời sống tín ngưỡng của cộng đồng cư dân gắn bó lâu đời với biển đảo.

Từ bến xe đò Hội An, có thể đi thuyền gắn máy theo đường sông ra Cửa Đại, sau đó chạy theo hướng Đông Nam khoảng 15 km đến bến đò Bãi Làng. Từ Bãi Làng, theo đường thủy đi thẳng hướng Tây Nam khoảng 2 km là đến di tích; nếu đi đường bộ, quãng đường khoảng 4 km.

Cù Lao Chàm và nghề khai thác yến sào

Cù Lao Chàm là một xã đảo có địa hình đồi núi, gồm 7 hòn đảo lớn nhỏ: Hòn Khô, Hòn Lá, Hòn Dài, Hòn Mồ, Hòn Lao, Hòn Tai và Hòn Ông, tạo thành một vòng cung giữa biển. Quần đảo có 8 bãi cát vàng với cảnh quan tự nhiên đặc trưng gồm Bãi Bấc, Bãi Ruộng, Bãi Ông, Bãi Xếp, Bãi Chồng, Bãi Bìm, Bãi Hương và Bãi Nần. Dân cư tập trung chủ yếu tại Bãi Làng và Bãi Hương.

Những vách đá cheo leo, hang động biệt lập giữa biển cũng tạo nên môi trường cư trú thuận lợi cho chim yến. Các hang yến nổi tiếng tập trung tại những đảo đá như Hòn Khô, Hòn Tai và Hòn Lao. Yến hàng có tên khoa học được tư liệu di tích ghi là Collocalia fuciphaga germaini, có thân hình nhỏ, tương đương chim sẻ, bộ lông nâu đen, cánh dài và nhọn, đuôi ngắn chẻ đôi, mỏ ngắn và rộng, chân ngắn có móng vuốt.

Chim yến thường sống trong những hang đá trơ trọi, nơi chịu nhiều tác động của sóng gió và nước biển. Vào mùa làm tổ, chim tiết ra chất nhờn từ tuyến nước bọt để tạo thành những chiếc tổ bám vào vách đá. Tổ mới có màu trắng phớt hồng, mềm và dai, sau đó đông cứng dưới tác động của không khí và chuyển thành màu trắng đục.

Theo các nguồn tư liệu lịch sử được dẫn lại, từ trước thế kỷ XIII, người Trung Quốc đã biết đến giá trị của tổ yến; một số cộng đồng ở Đông Nam Á, trong đó có người Chăm, cũng đã biết khai thác nguồn đặc sản này tại các hang đảo ven biển. Khi người Việt tiếp nhận vùng đất này từ thế kỷ XV, kinh nghiệm khai thác yến sào của người Chăm tiếp tục được kế thừa, trong đó cư dân làng Thanh Châu giữ vai trò quan trọng.

Từ làng Thanh Châu đến Đội Thanh Châu

Theo truyền thuyết địa phương, người làng Thanh Châu phát hiện yến sào tại hang Tò Vò, Hòn Lao là ông Trần Tiến. Ban đầu, việc khai thác diễn ra tự phát trong cộng đồng cư dân Thanh Châu. Về sau, cùng với quá trình mở mang lãnh thổ của các chúa Nguyễn về phía Nam, nghề khai thác yến được mở rộng đến nhiều vùng như Quy Nhơn, Phú Yên, Bình Khang và Diên Khánh.

Chúa Nguyễn thành lập “Đội Thanh Châu”, thực chất giao cho cư dân Thanh Châu tổ chức khai thác yến và nộp thuế cho nhà nước hằng năm. Đến đầu thế kỷ XIX, nhà Nguyễn tổ chức Đội Thanh Châu theo mô hình quân đội, với các chức vụ như Quản lĩnh tam tỉnh yến hộ, Đội trưởng Ngũ quản lĩnh yến hộ và Hộ trưởng. Những người này chủ yếu là cư dân Thanh Châu, chịu trách nhiệm quản lý nghề khai thác yến tại ba tỉnh Quảng Nam, Quảng Bình và Khánh Hòa.

Từ thời Gia Long, ông Hồ Văn Hòa cùng các thế hệ con cháu lần lượt đảm nhiệm việc trông coi nghề khai thác yến. Những tư liệu còn lưu tại Miếu Tổ nghề Yến, gồm biển, liễn và bia đá, ghi nhận vai trò của Hồ Văn Hòa trong việc tổ chức nghề yến và xây dựng nơi thờ tự các bậc tiền hiền. Vì vậy, trong truyền thống của cộng đồng làm nghề, ông Hồ Văn Hòa được tôn là Tổ nghề Yến.

Sang đầu thế kỷ XX đến năm 1974, nhà nước quản lý nghề yến và giao cho các hiệu buôn, chủ công ty đấu thầu khai thác. Người làm nghề yến ở Thanh Châu trở thành lao động cho các chủ khai thác. Sau năm 1975, hoạt động khai thác và tiêu thụ yến sào được nhà nước quản lý, Đội Yến sào Hội An được hình thành trên cơ sở phát triển từ làng yến Thanh Châu truyền thống.

Truyền thuyết Nàng Yến

Cùng với lịch sử nghề yến, vùng Hội An còn lưu truyền câu chuyện dân gian về “Nàng Yến”, được xem như một truyền thuyết gắn với nguồn gốc nghề.

Chuyện kể rằng, một đôi vợ chồng ven biển sau 17 năm chung sống mới sinh được một cô con gái. Cô bé dù ngày tháng trôi qua vẫn giữ khuôn mặt trẻ thơ. Khi cô vừa tròn 16 tuổi, một tháng và bốn ngày, những đàn chim hải âu bất ngờ hoảng loạn bay khỏi vùng biển. Một cụ già trưởng tộc nhận ra dấu hiệu tai biến và khuyên dân làng lên núi tránh nạn. Tuy nhiên, sóng thần nhanh chóng ập đến, cuốn trôi làng chài.

Cha mẹ cô gái may mắn được một lực lượng kỳ diệu đưa lên núi và sống sót. Nhưng trên núi trọc, họ không có thức ăn. Khi cha mẹ kiệt sức, cô gái còn chút sức lực đã đi tìm thức ăn và tìm được củ khoai rừng. Nàng cắn từng miếng nhỏ để mớm cho cha mẹ, thậm chí dùng chính nước miếng của mình để giúp họ. Khi cha mẹ tỉnh lại, cô gái đã kiệt sức và qua đời trong vòng tay họ.

Hai ông bà chôn con dưới chân núi. Ba ngày sau, trên mộ xuất hiện một con chim có bộ lông đen huyền. Những mùa xuân tiếp theo, con chim trở lại rồi mang theo những con chim khác. Đến mùa xuân thứ ba, cả đàn chim kéo về quanh ngôi nhà của hai ông bà.

Từ đó, những người đánh cá nhận thấy trên vùng núi nơi cô gái từng nằm lại, nay đã trở thành một đảo nhỏ giữa biển, đàn chim đen huyền kéo đến và làm tổ trong các hang đá. Người dân lấy tổ yến làm thức ăn và truyền nhau về giá trị của loại sản vật này. Họ gọi loài chim ấy là chim yến và tôn Nàng Yến là Tổ nghề Yến.

Truyền thuyết được lưu truyền qua nhiều thế hệ, phản ánh cách cộng đồng lý giải nguồn gốc nghề nghiệp và gửi gắm trong đó sự biết ơn đối với người đã được xem là khởi nguồn của nghề. Chi tiết “Nàng Yến vừa tròn mười sáu tuổi, một tháng, lẻ bốn ngày” cũng được dân gian liên hệ với chu kỳ chim yến làm tổ vào khoảng tháng Giêng và tháng Tư hằng năm.

Nghề khai thác yến và những hiểm nguy giữa biển

Khai thác yến sào là một nghề đem lại giá trị kinh tế lớn nhưng luôn tiềm ẩn nguy hiểm. Người thợ phải chuẩn bị kỹ lưỡng từ ghe thuyền, dụng cụ chứa đựng đến tre, sào, chĩa, vợt, dây thừng, dây nâu, túi đựng, nước uống và lương thực.

Theo phương thức truyền thống, thuyền đi từ cửa hang theo nguồn nước vào sâu bên trong, áp sát chân vách đá rồi cố định vào các tảng đá. Người thợ sử dụng những cây tre dài khoảng 10 đến 15 m, cắm vào vị trí đã chuẩn bị trên ghe và gác đầu tre lên vách đá. Những cây tre được tạo thành các bậc để leo lên nơi có tổ yến.

Người khai thác mang theo một cây chĩa bằng tre, đầu gắn một mảnh sắt mỏng để nâng tổ yến, phía dưới có rọ mây hứng tổ. Dây thừng dài khoảng 100 m được sử dụng để hỗ trợ việc leo trèo trên vách đá. Công việc đòi hỏi kỹ năng, kinh nghiệm và sự phối hợp chặt chẽ giữa những người trong đội.

Ngày nay, thuyền máy, đèn pin và các thiết bị hỗ trợ hiện đại đã thay thế một phần phương tiện truyền thống. Tuy nhiên, việc tiếp cận các hang yến trên những vách đá cao, hiểm trở giữa biển vẫn là công việc đặc biệt nguy hiểm.

Chính từ những đặc điểm đó, Miếu Tổ nghề Yến được xây dựng tại Bãi Hương để thờ Tổ nghề, các bậc tiền hiền và những vị thần liên quan đến sông nước, đồng thời là nơi cộng đồng gửi gắm mong cầu bình an, thuận buồm xuôi gió trước mỗi mùa khai thác.

Miếu Tổ nghề Yến và lễ giỗ Tổ

Dựa trên tư liệu lịch sử cùng đặc điểm kiến trúc, hoa văn trang trí và sự tương đồng với các công trình tín ngưỡng cùng thời, di tích được xác định xây dựng khoảng đầu thế kỷ XIX để thờ Tổ nghề Yến và Thành Hoàng bổn xứ.

Hằng năm vào ngày 10 tháng 3 âm lịch, cư dân địa phương tổ chức lễ cúng Tổ nghề với nhiều nghi thức truyền thống. Lễ hội vừa thể hiện lòng tưởng nhớ các bậc tiền nhân, vừa đánh dấu thời điểm cộng đồng chuẩn bị bước vào vụ khai thác yến đầu tiên trong năm, thường vào tháng 4.

Năm 2006, trong khuôn khổ phục vụ Năm Du lịch Quốc gia Quảng Nam, UBND thị xã Hội An, chính quyền xã Tân Hiệp cùng các tộc họ từng tham gia nghề khai thác yến đã tổ chức lễ cúng Tổ nghề tại miếu vào ngày 6 và 7/1/2006.

Lễ bắt đầu bằng lễ túc vào buổi tối, với sự tham gia của đại diện chính quyền xã Tân Hiệp, Đội khai thác yến và tộc Hồ. Sang ngày hôm sau là lễ nghinh thần bằng thuyền, ghe của xã Tân Hiệp và đội khai thác yến. Đoàn rước đi qua các địa điểm tín ngưỡng để vái vọng, đến Hòn Tai, nơi có hang yến, sau đó trở về miếu Tổ để thỉnh nồi hương nhập điện và tiến hành các nghi lễ.

Lễ tế gồm tế âm linh và tế Tổ. Các nghi thức được tiến hành trang nghiêm với xướng tế, cổ nhạc, đọc văn tế và dâng lễ vật. Trong lễ tế Tổ có phần dâng lễ vật yến sào và dâng hương. Bên cạnh nghi lễ truyền thống còn có các hoạt động cộng đồng như lắc thúng chai, đua thuyền, nhảy bao bố, tạo nên không khí sinh hoạt văn hóa đặc trưng của cư dân vùng biển đảo.

Kiến trúc Miếu Tổ nghề Yến

Miếu được xây dựng trên một gò cát cách bờ biển khoảng 150 m tại Bãi Hương. Mặt tiền quay về phía biển, theo hướng Tây đến Tây Bắc, nhìn về đất liền. Toàn bộ khu di tích được bao bọc bởi hệ thống tường.

Cổng tam quan có quy mô lớn, trụ giữa cao khoảng 5,02 m, hai trụ bên cao 4,1 m. Lối chính cao 2,6 m, rộng 1,7 m; hai lối phụ cao 2 m, rộng 0,95 m. Trên lối chính đắp nổi bốn chữ Hán “Yến Nghệ Tổ miếu”. Hai bên cổng có câu đối “Bách linh sở tụy tinh anh khí – Vạn vũ quân chiêm vũ lộ ân”. Cổng sơn đỏ, viền trắng và vàng, trang trí hồi văn mang ý nghĩa cát tường.

Qua cổng là khoảng sân rộng khoảng 7 m, lát gạch Bát Tràng. Giữa sân có bình phong kiểu cuốn thư cao 1,6 m, rộng 2,6 m. Mặt trước bình phong đắp hình hổ, mặt sau là cảnh sơn thủy kết hợp các họa tiết hồi văn.

Công trình chính gồm hai nếp nhà nối thông với nhau, tổng diện tích khoảng 69,3 m², mái lợp ngói âm dương. Nếp nhà phía trước có hệ vì kèo kiểu chồng rường giả thủ, kết hợp trụ đội và con sơn uốn cong. Các cấu kiện gỗ được trang trí bằng kỹ thuật chạm xoi chỉ với hoa lá, trong đó các giả thủ được cách điệu theo hình quả bí.

Nếp nhà phía sau là không gian thờ tự, ngăn với nếp trước bằng hệ thống cửa gỗ kiểu thượng song hạ bản. Khu vực này có các bệ thờ chính, bệ thờ tả hữu và hệ thống vì kèo được cấu tạo đơn giản hơn. Kiểu kiến trúc cột trốn kẻ chuyền tạo cho không gian bên trong cảm giác rộng và thoáng.

Trên các xà hạ là những bức hoành sơn son thếp vàng. Ba bức hoành tiêu biểu gồm “Trướng Hải Vô Trần”, “Hải Bất Dương Ba” và “Tích Ngã Vô Cương”. Hệ thống khám thờ, hương án và bài vị được bố trí trang trọng, nhiều chi tiết chạm lộng, chạm nổi, sơn son thếp vàng và các đồ án bát bửu.

Hệ mái gồm 29 vồng ngói âm dương. Bờ nóc trang trí lưỡng long tranh châu, với quả châu bằng thủy tinh màu xanh đặt trên bệ mây cuộn. Hai bên là đôi rồng dài khoảng 1,92 m, tạo thành điểm nhấn nổi bật cho kiến trúc di tích. Các ô hộc, đầu hồi uốn cong và đĩa sứ trang trí góp phần tạo nên vẻ mềm mại cho tổng thể công trình.

Những hiện vật tiêu biểu

Miếu hiện còn lưu giữ nhiều hiện vật có giá trị lịch sử và nghệ thuật, trong đó có:

  • 3 bức hoành, gồm một bức thời Thiệu Trị, một bức thời Tự Đức và một bức được đoán định vào khoảng đầu thế kỷ XX.
  • 6 khám thờ được chạm trổ hoa văn, sơn son thếp vàng.
  • 14 bài vị gỗ viền hoa lá, chạm hình rồng, thờ các vị thần và những bậc tiền hiền, hậu hiền liên quan đến cộng đồng và nghề yến.
  • Một tấm bia đá có niên đại Tự Đức năm thứ 8.

Hệ thống bài vị phản ánh khá rõ sự phong phú của tín ngưỡng tại miếu, với các đối tượng thờ như Đại Càn, Thành Hoàng, Hội đồng liệt vị, Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ tiên nương, Phục Ba đại tướng quân, Hà Bá thủy quan, Lịch đại tiên sư, Chúa Ngọc tiên nương, Tiền hiền khai khẩn, Hậu hiền khai cơ cùng các vị thần liên quan đến sông nước và nghề nghiệp.

Giá trị của di tích

Miếu Tổ nghề Yến là một công trình tín ngưỡng gắn với một nghề đặc biệt trong đời sống kinh tế và văn hóa của cư dân vùng biển đảo. Di tích ghi dấu quá trình hình thành, tổ chức và truyền nối nghề khai thác yến sào ở Hội An và Cù Lao Chàm, đồng thời phản ánh sự kết hợp giữa tín ngưỡng thờ Tổ nghề với hệ thống tín ngưỡng dân gian của cư dân ven biển.

Về kiến trúc nghệ thuật, công trình có quy mô vừa phải nhưng sở hữu hệ thống cổng tam quan, bình phong, nhà thờ, vì kèo gỗ, hoành phi, bài vị, khám thờ và trang trí mái khá phong phú. Các kỹ thuật chạm khắc, sơn son thếp vàng cùng hệ thống chữ Hán và bia đá tạo nên giá trị tư liệu đáng chú ý.

Nằm trong không gian Cù Lao Chàm, di tích còn góp phần làm phong phú hệ thống điểm đến văn hóa của Hội An, nơi cảnh quan biển đảo, đời sống cộng đồng và các di sản lịch sử cùng tồn tại trong một không gian văn hóa đặc trưng.

Bảo tồn di tích

Di tích đã được Nhà nước tu bổ vào năm 1997. Hiện nay, ngoài sự quản lý trực tiếp của UBND xã Tân Hiệp, di tích còn có người trông nom thường xuyên.

Miếu không chỉ là nơi lưu giữ ký ức về nghề khai thác yến sào mà còn là không gian để cộng đồng tưởng nhớ các thế hệ tiền nhân, duy trì nghi lễ truyền thống và trao truyền những câu chuyện gắn với lịch sử nghề nghiệp của cư dân Cù Lao Chàm.

Thông tin nhanh

Hạng mục Thông tin
Tên di tích Miếu Tổ nghề Yến Cù Lao Chàm
Loại hình Lịch sử; Kiến trúc nghệ thuật
Địa điểm Bãi Hương, Cù Lao Chàm, xã Tân Hiệp
Không gian văn hóa Nghề khai thác yến sào Cù Lao Chàm và Hội An
Thời gian xây dựng Khoảng đầu thế kỷ XIX
Đối tượng thờ Tổ nghề Yến, Thành Hoàng bổn xứ, tiền hiền, hậu hiền và các vị thần liên quan
Lễ cúng Tổ nghề Ngày 10 tháng 3 âm lịch hằng năm
Tu bổ Năm 1997
Kiến trúc nổi bật Tam quan, bình phong, hai nếp nhà, mái ngói âm dương, lưỡng long tranh châu
Hiện vật tiêu biểu 3 bức hoành, 6 khám thờ, 14 bài vị gỗ, 1 bia đá
Giá trị Lịch sử nghề yến, tín ngưỡng thờ Tổ nghề, kiến trúc và nghệ thuật truyền thống
Rate this post
Di tích lịch sử quốc gia; Xã Tân Hiệp
Lượt xem: 27

Liên hệ truyền thông 0938948549

1 result
Bạn sẽ quan tâm?:
Có thể bạn cũng quan tâm: