Nghề gốm làng Bát Tràng

Nghề gốm làng Bát Tràng là một nghề thủ công truyền thống nổi tiếng, gắn bó với lịch sử hình thành và phát triển của làng Bát Tràng qua nhiều thế kỷ. Từ đất sét, cao lanh và ngọn lửa, những người thợ đã tạo nên một thế giới sản phẩm phong phú, từ đồ gia dụng, đồ thờ cúng đến các sản phẩm trang trí.

Theo truyền thuyết, xưa kia Bát Tràng có 72 gò đất sét trắng. Một số thợ gốm Bồ Bát, nay thuộc Ninh Bình, cùng họ Nguyễn Ninh Tràng đã di cư đến đây lập lò và đặt tên khu vực là Bạch Thổ Phường, nghĩa là phường đất trắng. Đến thế kỷ XV, Bát Tràng đã được sử liệu ghi nhận là một làng nghề gốm nổi tiếng và từng được triều đình lựa chọn cung cấp đồ cống phẩm cho nhà Minh.

Từ nguồn đất đến làng nghề nổi tiếng

Nguyên liệu truyền thống của nghề gốm Bát Tràng gồm đất sét và cao lanh. Khi nguồn đất tại chỗ dần cạn kiệt từ thế kỷ XVIII, người làm nghề tìm đến nhiều vùng khác để khai thác nguyên liệu như Sơn Tây, Phúc Yên, Đông Triều và Hải Dương. Trong đó, đất Trúc Thôn được người Bát Tràng đặc biệt ưa chuộng.

Qua thời gian, nghề gốm phát triển cùng với sự thay đổi của kỹ thuật nung. Những lò ếch, lò cóc và lò dã chiến ban đầu sử dụng rơm rạ, tre nứa. Khi chuyển sang lò bầu, người dân kết hợp rơm rạ với nhiều loại gỗ. Đến thời kỳ sử dụng lò đứng, than cám Quảng Ninh trở thành nhiên liệu chính. Hiện nay, các cơ sở sản xuất sử dụng nhiều loại lò hiện đại như lò gas, lò điện và lò tuy-nen, giúp nâng cao hiệu quả sản xuất và giảm sức lao động.

Bàn xoay vẫn là công cụ quan trọng trong quá trình tạo hình. Trước đây người thợ vận hành hoàn toàn bằng sức người, còn ngày nay bàn xoay được gắn thêm mô-tơ để hỗ trợ sản xuất.

Bảy công đoạn tạo nên một sản phẩm gốm

Quy trình sản xuất gốm Bát Tràng truyền thống gồm nhiều công đoạn nối tiếp nhau, từ xử lý nguyên liệu đến tạo hình, trang trí, phủ men và nung. Người thợ đúc kết kinh nghiệm nghề nghiệp qua câu: “Nhất xương, nhì da, thứ ba dạc lò”, nhấn mạnh vai trò của cốt gốm, lớp men và kỹ thuật nung.

Công đoạn đầu tiên là xử lý và pha chế đất. Đất được ngâm trong hệ thống bể chứa, sau đó trải qua các bước đánh, lắng, phơi và ủ tùy theo đặc tính của từng loại nguyên liệu. Với một số loại đất tốt, người thợ có thể xử lý đơn giản hơn bằng cách loại bỏ tạp chất, ngâm cho đất “chín”, đảo kỹ, vun thành đống, dẫm đất rồi thái nhỏ nhiều lần cho đến khi đạt độ mịn và dẻo cần thiết. Tùy từng dòng sản phẩm, đất có thể được pha thêm cao lanh, điều chỉnh lượng cát hoặc loại bớt thành phần không phù hợp.

Sau khi chuẩn bị đất, người thợ tạo dáng trên bàn xoay. Những sản phẩm thông thường được vuốt bằng tay, trong khi đồ có kích thước lớn cần kỹ thuật be chạch để kéo, nặn và tạo hình khối đất. Ngày nay, ngoài phương pháp truyền thống, người Bát Tràng còn sử dụng đắp nặn, đúc khuôn, khuôn in và đổ rót. Phôi sau khi tạo hình được hong hoặc sấy để đạt độ khô thích hợp.

Khi phôi đã cứng tay, người thợ tiếp tục tu sửa, chỉnh chân vóc, cắt gọt phần thừa, bồi đắp chỗ khuyết, ghép các bộ phận và hoàn thiện bề mặt. Tùy loại sản phẩm, người thợ có thể khoan lỗ, chuốt hoa văn, làm mịn bề mặt, đắp nổi hoặc khắc chìm.

Hoa văn và nghệ thuật trang trí

Trang trí là công đoạn đưa dấu ấn thẩm mỹ của người thợ lên sản phẩm. Trong các giai đoạn lịch sử khác nhau, kỹ thuật trang trí Bát Tràng cũng có những biến đổi.

Từ kỹ thuật khắc chìm và tô men nâu thời Lý – Trần, nghề gốm phát triển thêm các kỹ thuật chạm đắp nổi, vẽ lam và nhiều mô típ phong phú như rồng, phượng, mây, ngựa có cánh, hình người, cánh sen, hoa dây, lá đề và phong cảnh sơn thủy. Người thợ dùng bút lông vẽ trực tiếp lên sản phẩm hoặc tạo hiệu ứng bằng đánh chỉ, bôi men chảy màu và vẽ men màu. Khi nung, men chảy tạo nên những đường nét và sắc màu tự nhiên trên bề mặt gốm.

Bên cạnh kỹ thuật truyền thống, hiện nay Bát Tràng còn sử dụng một số phương pháp trang trí bằng hình in sẵn trên giấy. Những phương pháp này giúp rút ngắn thời gian sản xuất nhưng theo tư liệu có sự khác biệt về mức độ sáng tạo và giá trị nghệ thuật so với cách trang trí thủ công.

Những dòng men tạo nên sắc thái Bát Tràng

Men là một trong những yếu tố tạo nên diện mạo đặc trưng của gốm Bát Tràng. Trong các loại men truyền thống, men tro được sử dụng phổ biến. Men được chế từ tro trấu kết hợp với đất sét trắng, vôi sống và những nguyên liệu khác.

Từ nền men tro, người thợ Bát Tràng phát triển nhiều dòng men đặc trưng như men nâu, men lam, men rạn, men ngọc và men trắng ngà. Mỗi dòng men tạo ra những sắc độ và hiệu ứng khác nhau, góp phần làm nên vẻ đẹp riêng của sản phẩm.

Người thợ truyền thống thường sử dụng men ướt. Hỗn hợp men được nghiền mịn, hòa với nước, khuấy đều rồi để lắng. Phần thích hợp được lựa chọn để tạo lớp men phủ trên cốt gốm. Trong quá trình pha chế, kinh nghiệm về độ mịn của tro và đất được đúc kết thành câu “nhỏ tro to đàn”, một cách nói phản ánh tri thức nghề nghiệp được truyền lại qua nhiều thế hệ.

Sau khi hoàn thiện cốt gốm, sản phẩm được tráng men bằng nhiều kỹ thuật. Phổ biến là tráng men bên ngoài, còn những kỹ thuật khó hơn gồm quay men và đúc men. Quay men là phủ men cả bên trong lẫn bên ngoài cùng lúc, trong khi đúc men tập trung vào phần lòng sản phẩm.

Những kỹ thuật này vừa mang tính kỹ thuật vừa có giá trị nghệ thuật, từng được xem là bí quyết nghề nghiệp của các thế hệ thợ gốm Bát Tràng. Sau khi tráng men và làm khô, sản phẩm tiếp tục được sửa hàng men, tức bổ sung hoặc loại bỏ phần men thừa trước khi đưa vào lò.

Nghệ thuật làm chủ ngọn lửa

Sau khi hoàn thiện, sản phẩm được sắp xếp vào lò nung. Cách chồng lò phụ thuộc vào loại sản phẩm, kích thước, loại bao nung và cấu tạo của từng loại lò. Người thợ phải tính toán cách xếp để tận dụng không gian, tiết kiệm nhiên liệu và bảo đảm hiệu quả nung.

Đốt lò là công đoạn quyết định thành công của một mẻ gốm. Trong truyền thống Bát Tràng, người làm nghề thường thực hiện nghi lễ cầu khấn trước khi đốt lò, thể hiện niềm tin và sự gắn bó giữa nghề thủ công với đời sống tinh thần cộng đồng.

Điều quan trọng nhất của quá trình nung là làm chủ ngọn lửa. Người thợ phải nâng nhiệt độ từ từ, đưa lò đến nhiệt độ cao nhất cần thiết rồi hạ nhiệt dần khi sản phẩm đã chín. Với các lò truyền thống, người thợ cả dựa rất nhiều vào kinh nghiệm để quan sát khói, hơi nước, mùi và trạng thái của lò.

Kinh nghiệm ấy được lưu truyền bằng những cách diễn đạt nghề nghiệp như “dấm sấy khói cay, bắt đầy khói thối”, chỉ những dấu hiệu mà người thợ dựa vào để điều chỉnh ngọn lửa. Với các lò hiện đại như lò con thoi và lò tuy-nen, nhiên liệu có thể là dầu hoặc khí đốt, còn nhiệt độ được theo dõi bằng hỏa kế và điều chỉnh bán tự động hoặc tự động.

Đa dạng sản phẩm và sức sống của làng nghề

Gốm sứ Bát Tràng có hệ thống sản phẩm phong phú, với ba nhóm chính gồm đồ gốm gia dụng, đồ gốm thờ cúng và đồ trang trí phục vụ thị trường trong nước cũng như xuất khẩu.

Bên cạnh những sản phẩm truyền thống, các cơ sở sản xuất không ngừng nghiên cứu, thiết kế mẫu mã mới để phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng. Quá trình đổi mới cũng thúc đẩy người làm nghề sáng tạo và ứng dụng thêm nhiều thiết bị như lò gas, máy trộn đất, máy nén và các loại khuôn hỗ trợ sản xuất.

Nghề gốm hiện vẫn được cộng đồng Bát Tràng thực hành và phát triển. Mỗi hộ gia đình có thể là một đơn vị sản xuất độc lập, đồng thời công nghệ mới được ứng dụng để nâng cao chất lượng, sản lượng, rút ngắn thời gian sản xuất, giảm nhân công và cải thiện các vấn đề môi trường.

Di sản sống của cộng đồng Bát Tràng

Giá trị của nghề gốm Bát Tràng không chỉ nằm trong những sản phẩm hoàn chỉnh mà còn nằm ở toàn bộ hệ thống tri thức được tích lũy qua nhiều thế hệ. Người thợ phải vận dụng kỹ thuật truyền thống, đồng thời liên tục tìm tòi, sáng tạo hoa văn, kỹ thuật và mẫu mã mới để đáp ứng nhu cầu của đời sống.

Mỗi nghệ nhân có thể tạo nên những sản phẩm mang dấu ấn riêng, dù cùng thực hành trong một làng nghề. Qua đó, nghề gốm góp phần lưu truyền các biểu tượng văn hóa, những dòng men truyền thống và kỹ thuật chế tác của các thế hệ trước.

Bên cạnh giá trị kỹ thuật và thẩm mỹ, nghề gốm còn đóng góp vào kinh tế địa phương, tạo việc làm và thu nhập cho người dân. Cộng đồng những người thực hành nghề ngày càng mở rộng, hình thành các mối quan hệ sản xuất, trao đổi và hỗ trợ lẫn nhau, trong đó có Hiệp hội Nghề gốm sứ Bát Tràng.

Nghề gốm vì thế không chỉ tạo ra những sản phẩm bằng đất và lửa. Đó còn là một hệ thống tri thức về nguyên liệu, tạo hình, hoa văn, men, nhiệt độ, ngọn lửa và kinh nghiệm nghề nghiệp được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Với những giá trị tiêu biểu về lịch sử, kỹ thuật thủ công, tri thức dân gian, thẩm mỹ, kinh tế và đời sống cộng đồng, Nghề gốm làng Bát Tràng được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 4610/QĐ-BVHTTDL ngày 20/12/2019.

Thông tin cơ bản

Nội dung Thông tin
Tên di sản Nghề gốm làng Bát Tràng
Địa bàn Làng Bát Tràng
Loại hình Nghề thủ công truyền thống
Nguyên liệu chính Đất sét, cao lanh
Kỹ thuật tiêu biểu Xử lý đất, tạo dáng, trang trí, tráng men, nung
Sản phẩm Gốm gia dụng, đồ thờ cúng, đồ trang trí
Giá trị nổi bật Kỹ thuật thủ công, tri thức dân gian, thẩm mỹ, kinh tế và cộng đồng
Tình trạng di sản Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia
Quyết định công nhận Quyết định số 4610/QĐ-BVHTTDL ngày 20/12/2019
Bảo tàng gốm Bát Tràng
Bảo tàng gốm Bát Tràng
5/5 - (1)
Bạn phải đăng nhập để gửi bình luận.

Liên hệ truyền thông 0938948549

1 result
Bạn sẽ quan tâm?:
Có thể bạn cũng quan tâm: