Căn cứ Hòn Tàu: Đại bản doanh của Đặc khu ủy Quảng Đà trong kháng chiến chống Mỹ

Căn cứ Hòn Tàu là di tích lịch sử gắn liền với quá trình thành lập, lãnh đạo và hoạt động của Đặc khu ủy Quảng Đà trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước giai đoạn 1967–1975. Nằm giữa vùng núi hiểm trở, có địa hình thuận lợi cho việc tổ chức phòng thủ và giữ bí mật, Hòn Tàu từng là nơi đứng chân của cơ quan lãnh đạo cách mạng, đồng thời là trung tâm chỉ đạo nhiều hoạt động quân sự, chính trị quan trọng trên chiến trường Quảng Đà.

Không chỉ có giá trị về mặt quân sự, căn cứ còn là biểu tượng của tinh thần đoàn kết giữa cách mạng và nhân dân địa phương. Trong những năm tháng chiến tranh ác liệt, sự chở che, tiếp tế và lòng trung thành của người dân đã góp phần bảo vệ căn cứ, duy trì hoạt động của các cơ quan lãnh đạo và nuôi dưỡng phong trào cách mạng.

Di tích hiện thuộc địa bàn xã Duy Xuyên và xã Quế Sơn Trung, thành phố Đà Nẵng, gắn với vùng núi Hòn Tàu và hệ thống căn cứ cách mạng trên địa bàn Quảng Nam trước đây.

Đặc khu ủy Quảng Đà và dấu mốc lịch sử năm 1967

Tháng 10/1967, trước yêu cầu mới của cuộc kháng chiến, Khu ủy 5 quyết định sáp nhập tỉnh Quảng Đà và thành phố Đà Nẵng thành Đặc khu Quảng Đà. Đồng chí Hồ Nghinh được chỉ định làm Bí thư Đặc khu ủy, đồng chí Trần Thận giữ chức Phó Bí thư.

Việc thành lập Đặc khu Quảng Đà mang ý nghĩa chiến lược, nhằm phối hợp chặt chẽ ba vùng hoạt động gồm đô thị, nông thôn đồng bằng và miền núi; kết hợp lực lượng bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích; đồng thời phát huy sức mạnh của ba mũi đấu tranh chính trị, quân sự và binh vận. Trọng tâm là chiến trường đô thị Đà Nẵng, phục vụ mục tiêu chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968.

Để chuẩn bị cho chiến dịch, Khu ủy 5 cử đồng chí Trương Chí Cương trực tiếp làm Bí thư Đặc khu ủy Quảng Đà, cùng các đồng chí Hồ Nghinh và Trần Thận giữ vai trò Phó Bí thư. Bộ Tư lệnh Quân khu 5 cũng tăng cường lực lượng cho Mặt trận 4, trong đó có các đơn vị pháo binh và bộ binh. Tiểu đoàn đặc công Lam Sơn, phiên hiệu D91, do Đảng bộ và nhân dân Thanh Hóa kết nghĩa cử vào chiến trường, cũng trực tiếp tham gia chiến đấu tại Quảng Đà.

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968, quân và dân Quảng Đà đồng loạt tiến công vào Đà Nẵng, Hội An, Tam Kỳ cùng nhiều thị trấn và cơ quan đầu não của đối phương. Theo tư liệu lịch sử được ghi nhận, lực lượng cách mạng đã loại khỏi vòng chiến đấu khoảng 5.000 quân đối phương, phá hủy hoặc bắn rơi 192 máy bay, đồng thời đánh cháy 40 xe tăng và xe bọc thép.

Cuộc tiến công tạo ra những tác động quan trọng về quân sự và chính trị, góp phần làm suy yếu chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ và thúc đẩy quá trình đàm phán tại Paris.

Hòn Tàu: Vị trí chiến lược giữa núi rừng Quảng Nam

Theo các tư liệu lịch sử, Hòn Tàu, còn được một số tài liệu gọi là Tào Sơn, là dãy núi nằm giáp ranh các huyện Duy Xuyên, Nông Sơn và Quế Sơn trước đây, có diện tích gần 100 km² và độ cao khoảng 953 m so với mực nước biển.

Nguồn gốc tên gọi Hòn Tàu chưa được xác định rõ. Theo Địa chí Quảng Nam – Đà Nẵng, nhìn từ xa, hình dáng núi giống đầu một chiếc tàu thủy khổng lồ quay mũi về phía tây, vì vậy người dân gọi là Hòn Tàu. Trong khi đó, Đại Nam nhất thống chí mô tả núi Tào Sơn có địa thế cao dốc, vững chãi, với hình dáng giống đầu tàu hướng về phía tây.

Khu vực Hòn Tàu có địa hình hiểm trở, gồm nhiều ngọn núi như Nhà Muỗi, Cù Hang và Mặt Rạng. Hệ thống hang động tự nhiên có khả năng che giấu người và phục vụ sinh hoạt, hội họp. Từ các vị trí cao, lực lượng cách mạng có thể quan sát vùng đồng bằng Quảng Nam, theo dõi các tuyến giao thông và nắm bắt tình hình hoạt động của đối phương.

Nếu nhìn từ Đà Nẵng về phía nam và tây nam, dãy Hòn Tàu tạo thành một bức bình phong tự nhiên che chắn khu vực thành phố. Dãy núi còn nối liền với vùng núi phía tây Quảng Nam, hình thành hệ thống căn cứ liên hoàn, tạo điều kiện cho lực lượng cách mạng cơ động và rút lui khi cần thiết.

Bên cạnh lợi thế về địa hình, Hòn Tàu còn có nguồn tài nguyên rừng, động vật, thực vật và dược liệu phong phú. Từ lâu, người dân sinh sống ở các thung lũng quanh Quế Sơn đã dựa vào khu vực núi rừng này để khai thác tài nguyên và duy trì cuộc sống.

Hòn Tàu trong lịch sử đấu tranh cách mạng

Hòn Tàu từng được lựa chọn làm căn cứ trong nhiều giai đoạn lịch sử. Trong phong trào Cần Vương những năm 1885–1887, sau khi Trần Văn Dư bị thực dân Pháp bắt và sát hại ngày 31/12/1885, Nguyễn Duy Hiệu trở thành Hội chủ Nghĩa hội Quảng Nam.

Nguyễn Duy Hiệu đã chọn khu vực chân núi Hòn Tàu, thuộc thung lũng Trung Lộc, để xây dựng trung tâm lãnh đạo phong trào kháng chiến mang tên Tân tỉnh Trung Lộc. Vùng đất này có điều kiện thuận lợi nhờ đất đai màu mỡ, vườn cây trái, đồng ruộng rộng và địa hình núi cao bao bọc.

Việc lựa chọn Hòn Tàu làm căn cứ trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp cho thấy vị trí chiến lược của khu vực đã được nhận biết từ sớm. Đến cuộc kháng chiến chống Mỹ, những lợi thế tự nhiên ấy tiếp tục được phát huy, đưa Hòn Tàu trở thành một trong những căn cứ quan trọng của phong trào cách mạng tại Quảng Đà.

Căn cứ của Đặc khu ủy Quảng Đà giai đoạn 1968–1975

Cuối năm 1968, bộ phận tiền phương và Văn phòng Đặc khu ủy Quảng Đà chuyển đến đóng tại núi Nhà Muỗi, thuộc khu vực căn cứ Hòn Tàu. Trong khi đó, bộ phận hậu cứ đứng chân tại khu vực ranh giới giữa Nam Giang và Đại Lộc, được gọi là Căn cứ A7.

Đến tháng 12/1971, Hội nghị Đặc khu ủy Quảng Đà quyết định chuyển toàn bộ các cơ quan của Đặc khu ủy về Hòn Tàu. Quyết định này xuất phát từ vị trí thuận lợi của khu căn cứ, gần tuyến giao thông nối với cơ quan Khu ủy 5 tại Phước Trà.

Từ Hòn Tàu, lực lượng cách mạng có thể di chuyển xuống Duy Xuyên, Điện Bàn, Hội An hoặc ngược lên Hiệp Đức, Đại Lộc và qua Hòa Vang. Đặc biệt, đây là một trong những căn cứ gần Đà Nẵng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc theo dõi tình hình, nắm bắt hoạt động của đối phương và kịp thời chỉ đạo các phong trào đấu tranh.

Theo đồng chí Phạm Thanh Ba, nguyên Chánh Văn phòng Đặc khu ủy Quảng Đà, đứng từ núi Mặt Rạng có thể quan sát khu vực chiến trường rộng lớn, tạo lợi thế đặc biệt cho việc chỉ đạo chiến tranh cách mạng.

Trong những năm 1968–1975, dù liên tục chịu các đợt pháo kích, ném bom và hoạt động càn quét của đối phương, căn cứ vẫn duy trì hoạt động. Nhiều mệnh lệnh, chủ trương được truyền đi từ Hòn Tàu, góp phần tổ chức lực lượng, củng cố vùng giải phóng và chuẩn bị cho những bước tiến quan trọng của cuộc kháng chiến.

Từ Hòn Tàu đến ngày giải phóng Đà Nẵng

Sau Hiệp định Paris năm 1973, tình hình chiến trường Quảng Đà tiếp tục diễn biến phức tạp. Đối phương đẩy mạnh các hoạt động lấn chiếm và bình định, buộc lực lượng cách mạng phải điều chỉnh phương thức đấu tranh, củng cố lực lượng và giữ vững các vùng giải phóng.

Thực hiện Nghị quyết 21 của Trung ương Đảng và chủ trương của Khu ủy 5, Đặc khu ủy Quảng Đà xác định nhiệm vụ trọng tâm là đánh bại các kế hoạch lấn chiếm, bình định của đối phương, giành dân, giữ dân, mở rộng quyền làm chủ và phát triển lực lượng cách mạng.

Đại hội đại biểu Đảng bộ Đặc khu Quảng Đà diễn ra từ ngày 4 đến ngày 10/9/1973 đã tiếp tục xác định phương hướng đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh quân sự và ngoại giao, tập trung vào những vùng tranh chấp và vùng do đối phương kiểm soát.

Những thắng lợi trên chiến trường miền Nam cuối năm 1974 và đầu năm 1975, đặc biệt là chiến thắng Thượng Đức năm 1974, góp phần tạo điều kiện cho Trung ương Đảng quyết định giải phóng miền Nam trong năm 1975.

Ngày 27/3/1975, tại núi Hòn Tàu, đồng chí Võ Chí Công, Bí thư Khu ủy 5, cùng bộ phận tiền phương của Khu ủy kiểm tra kế hoạch giải phóng Đà Nẵng, phân công các lực lượng triển khai nhiệm vụ tiếp cận thành phố.

Ngày 28/3/1975, các cơ quan của Đặc khu ủy Quảng Đà bắt đầu tiến về Đà Nẵng. Đến trưa ngày 29/3/1975, lực lượng chủ lực phối hợp với tự vệ và biệt động thành phố tiếp quản Tòa Thị chính. Lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tung bay trên nóc tòa nhà, đánh dấu thời khắc thành phố Đà Nẵng được giải phóng.

Sau ngày giải phóng, Đặc khu ủy Quảng Đà tiếp tục chỉ đạo ổn định an ninh trật tự, khôi phục đời sống xã hội, quản lý các lực lượng của chính quyền cũ và huy động nhân lực, vật lực phục vụ quá trình giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Ngày 4/10/1975, thực hiện chủ trương hợp nhất các đơn vị hành chính, tỉnh Quảng Nam và Đặc khu Quảng Đà được hợp nhất thành tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng. Đặc khu Quảng Đà hoàn thành sứ mệnh lịch sử sau tám năm hoạt động trong giai đoạn kháng chiến đầy gian khổ và quyết liệt.

Căn cứ của niềm tin và lòng dân

Giá trị đặc biệt của Hòn Tàu không chỉ nằm ở địa hình hiểm trở hay vị trí thuận lợi cho hoạt động quân sự, mà còn ở sự gắn bó giữa căn cứ cách mạng với nhân dân địa phương.

Trong suốt những năm chiến tranh, người dân quanh vùng đã tiếp tế lương thực, bảo vệ đường liên lạc, hỗ trợ vận chuyển và giữ bí mật nơi đóng quân của các cơ quan Đặc khu ủy. Nhờ sự đùm bọc ấy, lực lượng cách mạng có thể duy trì hoạt động ngay cả trong những thời điểm bị đối phương đánh phá quyết liệt.

Đại tá Lê Công Thạnh từng nhấn mạnh ý nghĩa của Hòn Tàu như một “căn cứ của niềm tin”. Theo ông, sự vững vàng của Đặc khu ủy trong những năm tháng hoạt động tại đây đã tiếp sức cho phong trào cách mạng trên khắp Quảng Đà. Hòn Tàu không đơn thuần là nơi trú ẩn, mà còn là địa bàn nuôi dưỡng, tích lũy lực lượng và củng cố niềm tin của nhân dân vào thắng lợi cuối cùng.

Đồng chí Phạm Thanh Ba cũng khẳng định rằng khi nói đến căn cứ Hòn Tàu, không thể chỉ nhắc đến dãy núi hùng vĩ mà phải nhấn mạnh vai trò của lòng dân. Lương thực, thực phẩm và nhiều điều kiện thiết yếu để nuôi dưỡng cán bộ đều dựa vào sự đóng góp, chở che của người dân địa phương.

Chính sự đồng lòng ấy đã biến Hòn Tàu thành một căn cứ vững chắc, nơi sức mạnh của địa hình hòa quyện với sức mạnh của cộng đồng.

Những hy sinh và giá trị tri ân

Lịch sử Căn cứ Hòn Tàu cũng gắn với những mất mát to lớn của các cán bộ, chiến sĩ cách mạng. Trong đêm 21 rạng sáng 22/5/1972, một loạt bom B-52 đánh trúng khu vực cơ quan Ban Tuyên huấn, khiến 10 đồng chí hy sinh. Trong số đó, có năm người ở trong một hang đá bị những khối đá lớn vùi lấp, khiến việc tìm kiếm thi thể gặp nhiều khó khăn.

Khoảng 40 năm sau, với sự hỗ trợ của các cơ quan liên quan, hài cốt của những người đã hy sinh được tìm kiếm và đưa về với gia đình, đồng đội.

Những câu chuyện về sự hy sinh tại Hòn Tàu nhắc nhớ rằng phía sau mỗi căn cứ, mỗi mệnh lệnh và mỗi thắng lợi là biết bao con người đã đánh đổi tuổi trẻ, sức khỏe và sinh mạng để bảo vệ quê hương.

Theo ông Nguyễn Đình An, nguyên Ủy viên Ban Tuyên huấn Đặc khu ủy Quảng Đà, các thế hệ hôm nay cần gìn giữ ý chí, khí phách và tinh thần trách nhiệm của những người đi trước, để tiếp tục thực hiện tốt những nhiệm vụ mà lịch sử đặt ra trong thời bình.

Bảo tồn và phát huy giá trị di tích

Với ý nghĩa lịch sử đặc biệt, Di tích lịch sử Căn cứ Đặc khu ủy Quảng Đà tại Hòn Tàu được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích lịch sử cấp quốc gia theo Quyết định số 2164/QĐ-BVHTTDL ngày 8/6/2012.

Nhân kỷ niệm 50 năm thành lập Đặc khu ủy Quảng Đà (10/1967–10/2017), tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng đã tổ chức lễ kỷ niệm và khánh thành khu di tích lịch sử quốc gia Căn cứ Đặc khu ủy Quảng Đà.

Ngày nay, Hòn Tàu không chỉ là một địa danh gắn với lịch sử chiến tranh mà còn là “địa chỉ đỏ” phục vụ công tác giáo dục truyền thống cách mạng, tri ân các anh hùng liệt sĩ và bồi đắp tinh thần trách nhiệm cho thế hệ trẻ.

Về với Hòn Tàu là trở về với ký ức của một thời kỳ lịch sử đặc biệt, nơi núi rừng che chở cách mạng và lòng dân trở thành điểm tựa vững bền. Những dấu tích còn lại nhắc nhở các thế hệ hôm nay về giá trị của hòa bình, sự hy sinh và trách nhiệm gìn giữ di sản lịch sử dân tộc.

Thông tin nhanh

Hạng mục Thông tin
Tên di tích Căn cứ Hòn Tàu, khu căn cứ Đặc khu ủy Quảng Đà
Loại hình Di tích lịch sử cách mạng
Thời kỳ hoạt động nổi bật 1968–1975
Sự kiện liên quan Thành lập Đặc khu ủy Quảng Đà năm 1967; chỉ đạo chiến trường Quảng Đà; giải phóng Đà Nẵng năm 1975
Địa hình Dãy núi Hòn Tàu, có nhiều ngọn núi và hang động tự nhiên
Nhân vật lịch sử tiêu biểu Hồ Nghinh, Trần Thận, Trương Chí Cương, Võ Chí Công và nhiều cán bộ cách mạng khác
Địa chỉ Xã Duy Xuyên và xã Quế Sơn Trung, thành phố Đà Nẵng, Việt Nam
Xếp hạng di tích Di tích lịch sử cấp quốc gia năm 2012
Giá trị nổi bật Căn cứ chỉ huy cách mạng, biểu tượng của tinh thần đoàn kết quân dân và lòng yêu nước
Rate this post

Liên hệ truyền thông 0938948549

1 result
Bạn sẽ quan tâm?:
Có thể bạn cũng quan tâm: