Ngũ Hành Sơn Đà Nẵng

Địa chỉ: Khu vực Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng, Việt Nam.

Cách trung tâm thành phố Đà Nẵng khoảng 11 km về phía Đông Nam, quần thể Ngũ Hành Sơn là một trong những thắng cảnh đặc biệt của miền Trung, nơi những ngọn núi đá vôi nổi lên giữa vùng đồng bằng ven biển, tạo thành một không gian kết hợp giữa địa chất, cảnh quan, Phật giáo, văn hóa dân gian, lịch sử đấu tranh và nghề thủ công truyền thống.

Quần thể gồm năm ngọn núi mang tên Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, nằm trên vùng cát duyên hải. Phía Đông hướng ra biển Non Nước, phía Tây về sông Cẩm Lệ, phía Nam kết nối với không gian Hội An và phía Bắc hướng về Sơn Trà.

Từ lâu, Ngũ Hành Sơn còn được người dân gọi bằng cái tên gần gũi Non Nước. Đây là nơi thiên nhiên tạo nên những khối núi đá vôi độc lập, bên trong chứa hàng loạt hang động, khe đá, thạch nhũ và những khoảng trời mở, đồng thời cũng là nơi hình thành một hệ thống chùa, am, miếu và di tích gắn với nhiều lớp lịch sử.

Một câu khắc trên bia tại chùa Linh Ứng từng nhắc đến nguồn gốc đặc biệt của vùng núi:

“Phù nhất thiên nhiên dĩ tiên ngũ hành hải đảo
Nhất thiên niên hậu, vi ngũ hành nhất danh sơn”

Có thể hiểu rằng, từ một vùng từng là hải đảo giữa biển, qua hàng nghìn năm hình thành địa chất và bồi đắp của đồng bằng, Ngũ Hành Sơn đã trở thành một danh thắng nổi tiếng trên đất liền.

Từ những hòn đảo giữa biển đến quần thể Ngũ Hành Sơn

Theo tư liệu địa chất được lưu truyền, vùng đồng bằng Quảng Nam hình thành qua quá trình vận động nâng lên của dãy Trường Sơn Nam cùng sự bồi đắp của sông Thu Bồn và các nhánh sông. Trong quá trình ấy, những khối núi tạo thành Ngũ Hành Sơn từng nằm tách biệt giữa biển.

Khi đồng bằng dần hình thành, các đảo núi được nối với đất liền. Bờ biển theo thời gian tiếp tục dịch chuyển ra xa, hiện nay cách chân núi Thủy Sơn khoảng 800 m.

Ngũ Hành Sơn nằm ở rìa phía Bắc Trường Sơn Nam, được hình thành chủ yếu từ những khối đá vôi. Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới nhiều nắng, mưa lớn, đá vôi bị hòa tan và phong hóa qua thời gian, tạo nên những dạng địa hình đặc biệt.

Cũng từ quá trình tự nhiên đó mà những hang động, vách đá, khe núi và khoảng rỗng bên trong Ngũ Hành Sơn mang vẻ đẹp rất riêng.

Khác với nhiều hệ thống hang động nổi tiếng khác, hang động ở Ngũ Hành Sơn thường nằm trên các sườn hoặc đỉnh núi. Bên trong động không phổ biến những hệ thống thạch nhũ dày đặc phủ kín trần và nền. Nhiều hang có các cửa thông tự nhiên lên phía trên, giúp ánh sáng và không khí từ bên ngoài lọt vào.

Vì vậy, không gian bên trong nhiều hang động thường thoáng, rộng, có ánh sáng tự nhiên và nền tương đối bằng phẳng. Động Huyền Không là một trong những ví dụ tiêu biểu cho đặc điểm này.

Chính sự kết hợp giữa núi đá vôi, hang động, chùa chiền và cảnh quan ven biển đã tạo nên một quần thể mà tư liệu mô tả như “một khu thiên nhiên khổng lồ”, một món quà đặc biệt của thiên nhiên dành cho Đà Nẵng.

Truyền thuyết về sự hình thành Ngũ Hành Sơn

Ngũ Hành Sơn không chỉ được biết đến qua địa chất và cảnh quan. Trong đời sống văn hóa dân gian, nơi đây còn lưu truyền nhiều câu chuyện về nguồn gốc năm ngọn núi, phản ánh cách người xưa lý giải sự hình thành của vùng đất và gửi gắm vào đó những ước vọng về quê hương, nguồn cội và cuộc sống.

Một trong những truyền thuyết kể rằng, ngày xưa có một cụ già từ miền biển phía Bắc đi thuyền đến vùng bờ biển phía Đông, khu vực Đà Nẵng ngày nay. Cụ dựng một túp lều tranh bên bờ biển và sống bằng nghề chài lưới.

Một buổi sáng, khi cụ chuẩn bị ra khơi, biển bất ngờ nổi giông bão. Sóng lớn cuồn cuộn, gió gầm dữ dội. Giữa cảnh tượng ấy, cụ nhìn thấy một con rồng khổng lồ từ biển tiến vào, làm đất đá rung chuyển. Từ dưới bụng rồng rơi ra một quả trứng lớn. Sau đó con rồng quay trở lại biển và biến mất.

Khi trời yên biển lặng, một con Rùa Vàng từ ngoài khơi tiến vào. Rùa đào một hố trên cát, đặt quả trứng xuống rồi nói với cụ già rằng đó là giọt máu của Long Quân và nhờ cụ bảo vệ. Trước khi rời đi, Rùa Vàng trao cho cụ một chiếc móng và dặn rằng khi gặp chuyện nguy hiểm, hãy đặt chiếc móng bên tai để nhận được sự chỉ dẫn.

Cụ già chăm sóc quả trứng cẩn thận. Một ngày nọ, khi một nhóm người mang vũ khí tiến về phía nơi chôn quả trứng, cụ đặt chiếc móng rùa bên tai và nghe lời chỉ dẫn. Cụ vừa nằm xuống thì hóa thành một con hổ lớn khiến những người kia hoảng sợ bỏ chạy.

Sau đó cụ chuyển túp lều đến ngay trên vị trí quả trứng. Quả trứng ngày càng lớn, vỏ trứng sáng lấp lánh như một viên ngọc khổng lồ. Một đêm, những người trước đây quay lại phóng lửa đốt túp lều. Cụ cầu cứu thần Kim Quy và bất ngờ được đưa vào một hang đá rộng rãi, mát mẻ.

Cụ không biết rằng một phép màu đã xảy ra. Vỏ quả trứng vỡ thành năm mảnh, biến thành năm ngọn núi Cẩm Thạch. Từ trong quả trứng bước ra một bé gái xinh đẹp, được xem là giọt máu của Long Quân.

Cụ già cùng cô gái sống bên nhau như cha con. Chim chóc và thú rừng trở thành những người bạn của cô bé. Truyền thuyết kể rằng chim chóc mang sữa từ các mạch đá, hái trái cây trong rừng về nuôi cô bé và tha bông vải từ nhiều nơi về dệt thành quần áo.

Năm ngọn núi ấy, theo truyền thuyết, chính là những ngọn núi đá hiện còn tồn tại ở phía Đông Đà Nẵng và được gọi là Non Nước, Ngũ Hành Sơn.

Năm ngọn núi và những tên gọi của Ngũ Hành Sơn

Ngũ Hành Sơn từng có nhiều tên gọi khác nhau. Do ảnh hưởng của Hán học, trong các tư liệu xưa xuất hiện những tên như Ngũ Uẩn Sơn, Phổ Đà Sơn hay Bạch Hoa Ngũ Chỉ, gợi hình ảnh năm ngọn núi như năm ngón tay của một bàn tay khổng lồ ấn xuống mặt đất.

Đến năm 1825, trong chuyến vi hành Ngũ Hành Sơn, vua Minh Mạng căn cứ vào vị trí và đặc điểm của năm ngọn núi theo thuyết Ngũ Hành để đặt tên lần lượt là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, từ đó hình thành tên gọi Ngũ Hành Sơn.

Người Pháp gọi khu vực này là Marble Mountains, tức những ngọn núi cẩm thạch. Người dân địa phương quen gọi là Non Nước, một cái tên vừa mộc mạc vừa gợi lên cảnh sắc sông núi, biển trời.

Trong cách gọi dân gian, các ngọn núi còn có những tên riêng:

  • Thủy Sơn, phía Bắc, còn được gọi là núi Chùa.
  • Mộc Sơn, phía Đông, còn gọi là núi Mồng Gà.
  • Thổ Sơn, phía Tây Bắc, còn gọi là núi Đá Chồng.
  • Kim Sơn, phía Tây, còn được gọi là núi Đùng.
  • Hỏa Sơn, phía Nam, còn gọi là núi Ông Chài.

Trong năm ngọn núi, Thủy Sơn là ngọn nổi tiếng và được khai thác tham quan nhiều nhất. Tuy nhiên, giá trị của Ngũ Hành Sơn không chỉ nằm ở Thủy Sơn. Mỗi ngọn núi đều có hệ thống hang động, chùa chiền, di tích lịch sử và những câu chuyện riêng.

Thủy Sơn, trung tâm của hành trình khám phá Ngũ Hành Sơn

Thủy Sơn nằm ở phía Bắc quần thể, là ngọn núi lớn và nổi bật nhất. Núi trải trên diện tích khoảng 7 ha, cao khoảng 120 m và có ba đỉnh nằm ở ba tầng địa hình, được liên tưởng đến ba ngôi sao Tam Thai trong chòm sao Đại Hồng Tinh. Vì vậy Thủy Sơn còn có tên là núi Tam Thai.

Ba khu vực chính của Thủy Sơn gồm Thượng Thai, Trung Thai và Hạ Thai.

Thượng Thai là khu vực cao nhất ở phía Tây Bắc, gồm Vọng Giang Đài, chùa Tam Thai, chùa Tam Tôn, chùa Từ Tâm, khu nhà Hành Cung, động Hoa Nghiêm, động Huyền Không và động Linh Nham.

Trung Thai thấp hơn một chút, gồm Cổng Trời hay Cổng Vân Căn Nguyệt Quật, động Vân Thông, động Thiên Long và động Thiên Phước Địa.

Hạ Thai nằm về phía Đông, gồm Vọng Hải Đài, chùa Linh Ứng, tháp Xá Lợi và động Tàng Chơn.

Du khách có thể tiếp cận Thủy Sơn từ hai hướng. Cổng phía Tây có 156 bậc tam cấp dẫn lên chùa Tam Thai, trong khi cổng phía Đông có 108 bậc dẫn lên chùa Linh Ứng. Một hành trình phổ biến là lên bằng cổng phía Tây, tham quan hệ thống chùa và hang động rồi đi xuống theo phía Đông.

Vọng Giang Đài

Sau khi vượt qua 156 bậc cấp phía Tây, du khách đến khu vực cổng Tam Quan cổ kính của chùa Tam Thai. Rẽ về phía trái là đường lên Vọng Giang Đài.

Đây là điểm cao để nhìn về sông Cẩm Lệ, sông Cổ Cò và quan sát cảnh quan xung quanh Ngũ Hành Sơn. Đường lên khá hẹp, chủ yếu là những bậc đá tự nhiên.

Trên đài có một tấm bia cổ bằng đá Trà Kiệu, cao khoảng 2 m, rộng khoảng 1 m, đặt trên bệ đá lớn. Chính giữa bia khắc ba chữ “Vọng Giang Đài”, bên cạnh ghi niên đại Minh Mạng thứ 18, tháng 7 năm 1837.

Từ đây, tầm nhìn mở ra những dòng sông uốn lượn, đồng bằng, Gò Nổi và dãy Trường Sơn ở phía xa. Không gian ấy giúp du khách cảm nhận rõ hơn mối liên hệ giữa Ngũ Hành Sơn với vùng đồng bằng Quảng Nam và hệ thống sông ngòi xung quanh.

Quốc tự Tam Thai

Chùa Tam Thai nằm trên một khuôn viên tương đối bằng phẳng, chu vi khoảng 200 m, quay về hướng Tây Nam. Đây là một trong những ngôi chùa lâu đời nhất của Ngũ Hành Sơn, từng được phong Quốc tự và trải qua nhiều đời trụ trì.

Theo Hải ngoại Ký sự của Thích Đại Sán, năm 1695, trên đường trở về Trung Quốc, ông đã ghé thăm chùa Tam Thai. Từ đó có thể thấy ngôi chùa đã tồn tại từ trước thời điểm này và có lịch sử hơn 300 năm.

Ban đầu chùa được dựng bằng tranh, tre, nứa, lá. Tư liệu cho biết sau những lần xây dựng và trùng tu, chùa được hoàn thiện bằng gạch ngói. Năm 1901, chùa bị phá hủy trong một trận bão lớn và được xây dựng lại vào năm 1907 với sự đóng góp của Phật tử.

Chùa Tam Thai cũng gắn với lịch sử của các phong trào yêu nước. Trong thời kỳ Cần Vương, Duy Tân, phong trào chống thuế và Nghĩa hội Quảng Nam, nơi đây từng là nơi giao lưu của nhiều sĩ phu yêu nước.

Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập, chùa tiếp tục là địa điểm hoạt động bí mật của một số cán bộ cách mạng. Tư liệu ghi nhận tháng 8/1937, Tỉnh ủy Quảng Nam, Đà Nẵng từng tổ chức một hội nghị bí mật tại đây.

Trong chiến tranh, khu vực Tam Thai cũng gắn với những hoạt động cách mạng. Một câu chuyện được lưu truyền kể về hai chiến sĩ Đến và Xuân từng bí mật đặt mìn vào xe Mỹ, khi xe chạy đến cầu Nguyễn Văn Trỗi thì mìn phát nổ.

Chùa đã trải qua nhiều lần trùng tu, trong đó có đợt lớn vào năm 1995. Dù được tu bổ, công trình vẫn giữ nhiều nét kiến trúc cổ kính gợi nhớ đến kiến trúc chùa tháp và lăng tẩm Huế.

Động Hoa Nghiêm và thạch động Huyền Không

Từ chùa Tam Thai, du khách có thể tiếp tục đến động Hoa Nghiêm. Lối vào tương đối bằng phẳng, trước cửa động có một cổng cổ với ba chữ “Huyền Không Quan”. Bên cạnh là tượng Quan Thế Âm cầm bình cam lộ và một tấm bia cổ được khắc từ năm 1700.

Đi sâu hơn là thạch động Huyền Không, một trong những hang động nổi tiếng nhất Ngũ Hành Sơn.

Đường vào động khá tối và phải đi xuống hơn 20 bậc đá. Không gian bên trong có hình gần tròn, giống một chiếc chuông úp, chu vi khoảng 25 m, cao khoảng 16 m. Năm lỗ thông tự nhiên trên vòm động đưa ánh sáng và không khí từ bên ngoài vào.

Ánh sáng xuyên qua tán cây từ các lỗ trời tạo nên những mảng sáng tối đặc biệt trên vách đá. Đây là một trong những lý do Huyền Không mang vẻ đẹp rất khác với các hang động kín.

Trong động có tượng Phật Thích Ca cao khoảng 3 m, được thực hiện năm 1960 bởi nghệ nhân Nguyễn Chất của làng đá mỹ nghệ Non Nước. Bên dưới là bàn thờ Địa Tạng Vương Bồ Tát.

Hai bên động còn có các khu thờ tự gắn với tín ngưỡng dân gian như bà Ngọc Phi, bà Lôi Phi và Trang Nghiêm Tự. Trang Nghiêm Tự được cho là xây dựng năm 1825, gồm nhiều gian thờ Phật Quan Âm, Quan Công và Ông Tơ Bà Nguyệt.

Trong động còn có những hiện tượng đá tự nhiên được người dân gọi bằng những cái tên giàu hình tượng như trống đá, Thạch Nhũ Cốc và nhiều hình thù do thạch nhũ tạo thành.

Không gian Huyền Không cũng gắn với lịch sử đấu tranh cách mạng. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, nơi đây từng là căn cứ hoạt động bí mật. Trong chiến tranh chống Mỹ, động từng bị biến thành nơi huấn luyện và trú quân của lực lượng Mỹ, Việt Nam Cộng hòa. Quân giải phóng sau đó tổ chức nhiều trận đánh tại khu vực này.

Đặc biệt, tư liệu ghi nhận trận đánh trong chiến dịch X2 đêm 22 rạng sáng 23/8/1968, gắn với Anh hùng Phan Hiệp. Sau trận đánh, đơn vị được trao Huân chương Chiến công hạng Nhất và Phan Hiệp được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, sau đó mang tên Phan Hành Sơn.

Động Linh Nham, Vân Thông và Thiên Long

Động Linh Nham, còn gọi là động Ngọc Hoàng Thượng Đế, nằm ở vị trí cao và hướng về phía Tây. Trước đây động thờ Quan Âm, sau chuyển sang thờ Ngọc Hoàng, bên dưới có bàn thờ Nam Tào và Bắc Đẩu. Động gắn với tín ngưỡng dân gian về Ngọc Hoàng và lễ tiễn Táo quân về trời vào cuối năm.

Tiếp theo là Cổng Trời, một cấu trúc đá tự nhiên tạo thành tuyến liên hoàn giữa khu vực chùa Tam Thai và chùa Linh Ứng. Đi giữa những khối đá, du khách có cảm giác như đang di chuyển trong một hòn non bộ khổng lồ.

Giữa hai cổng trời là động Vân Thông, còn gọi là đường lên trời. Hang nằm trên vách núi cao, từ cửa động lên đỉnh khoảng 40 m. Đường đi quanh co, có đoạn hẹp chỉ vừa một người. Lên đến đỉnh, du khách có thể nhìn ra không gian trời biển rộng lớn.

Động Thiên Long nằm trên vách núi cạnh Cổng Trời phía Đông. Hang sâu và hiểm trở, có những khối đá nhấp nhô gợi hình miệng rồng. Hang được nối với khu vực Hang Gió trong động Tàng Chơn, nơi đón những luồng gió mát từ biển Non Nước.

Vọng Hải Đài và Quốc tự Linh Ứng

Từ động Thiên Long, du khách đi theo những bậc đá xuống Vọng Hải Đài. Đây là điểm quan sát biển với một tấm bia đá cổ có ba chữ “Vọng Hải Đài”, cùng niên đại Minh Mạng thứ 18.

Từ đây có thể nhìn về biển rộng và Cù Lao Chàm trong những ngày trời quang.

Tiếp tục xuống núi là chùa Linh Ứng, một trong những ngôi chùa lâu đời của Ngũ Hành Sơn. Chùa tựa vào vách núi, mặt hướng ra biển và có lịch sử gắn với quá trình hình thành Phật giáo tại khu vực này.

Theo tư liệu, tiền thân của chùa là một thảo am do vị tiền hiền có hiệu Quan Chánh, thế danh Bửu Đài, lập tại động Tàng Chơn. Đến thời Gia Long, chùa được xây dựng quy mô hơn và mang tên Ngự Chế Ứng Chơn Tự. Năm Minh Mạng thứ 6, tức năm 1825, chùa được xây dựng lại bằng gạch ngói, phong Quốc tự và đổi tên thành Ứng Chơn Tự.

Qua nhiều thời kỳ, chùa được trùng tu, trong đó có đợt lớn năm 1985. Hiện chùa vẫn giữ được nhiều nét cổ kính và lưu giữ hai bảng vàng liên quan đến quá trình hình thành, trùng tu.

Động Tàng Chơn và động Âm Phủ

Sau lưng chùa Linh Ứng là động Tàng Chơn, có nghĩa là nơi chứa đựng chân lý của vũ trụ. Động dài khoảng 10 m, rộng khoảng 7 m và khá thoáng nhờ có các cửa thông lên phía trên.

Bên trong gồm nhiều hang nhỏ như Tam Thanh, Hang Gió, Hang Chiêm Thành, Hang Ráy và động Bàn Cờ. Giữa động có miếu thờ Thái Thượng Lão Quân, bên phải thờ Bát Bộ Kim Cương và bên trái thờ Thượng Chiêm Thành.

Hang Chiêm Thành đặc biệt đáng chú ý với hai tác phẩm điêu khắc bằng đá sa thạch theo phong cách nghệ thuật Đông Dương, được cho là có niên đại khoảng nửa đầu thế kỷ X. Những dấu tích này góp phần cho thấy sự hiện diện sớm của văn hóa Chăm tại Ngũ Hành Sơn.

Động Âm Phủ nằm dưới chân Thủy Sơn và là một trong những hang động lớn của quần thể. Không gian bên trong rộng, vòm cao, có những lỗ thông lên phía trên và nhiệt độ thường mát hơn bên ngoài.

Tên gọi Âm Phủ gắn với hệ thống truyền thuyết về thế giới âm phủ, Diêm Vương và các câu chuyện Phật giáo dân gian. Du khách có thể khám phá những khu vực trong động được đặt tên theo các tầng địa ngục và hình tượng dân gian.

Động cũng gắn với lịch sử đấu tranh cách mạng. Trong kháng chiến chống Pháp, du kích địa phương từng sử dụng hang làm nơi trú ẩn. Trong chiến tranh chống Mỹ, nơi đây tiếp tục là căn cứ, trạm cứu chữa và nơi hoạt động của lực lượng cách mạng.

Đặc biệt, tư liệu ghi lại trận chiến ngày 24/12/1968, khi một đội quyết tử gồm năm chiến sĩ chiến đấu trong động trước lực lượng quân Mỹ đông hơn nhiều lần. Trận đánh kéo dài đến gần tối và đội quyết tử sau đó rút khỏi động an toàn. Tư liệu ghi nhận đội đã tiêu diệt nhiều binh lính đối phương, thu vũ khí, bắn rơi một máy bay trực thăng và phá hủy xe tăng, đồng thời được trao các phần thưởng và danh hiệu chiến công.

Đến năm 1971, động Âm Phủ tiếp tục là nơi diễn ra một trận bao vây khác. Lực lượng trong động được hỗ trợ từ bên ngoài và tổ chức mở đường thoát khỏi vòng vây.

Những câu chuyện ấy khiến hệ thống hang động Ngũ Hành Sơn không chỉ có giá trị cảnh quan mà còn là không gian lưu giữ ký ức lịch sử của địa phương.

Kim Sơn, Hỏa Sơn và những di tích phía Tây

Nếu Thủy Sơn là trung tâm quen thuộc nhất của hành trình Ngũ Hành Sơn, thì khu vực phía Tây lại mở ra một lớp cảnh quan và lịch sử khác. Năm ngọn núi được chia thành hai khu vực bởi đường Lê Văn Hiến: Thủy Sơn và Mộc Sơn ở phía Đông; Kim Sơn, Hỏa Sơn và Thổ Sơn ở phía Tây.

Khu vực phía Tây cách Thủy Sơn, làng đá mỹ nghệ và biển Non Nước khoảng 2 km về phía Đông, nằm trên trục Đà Nẵng, Hội An. Nơi đây có sông Cổ Cò, đồng ruộng, làng mạc, chùa chiền, hang động và nhiều di tích lịch sử.

Chùa Thái Sơn và hang Tam Thanh nằm trên đường Sư Vạn Hạnh. Chùa được thành lập năm 1959, ban đầu mang tên Khuôn Hội Hòa Long và đổi tên thành chùa Thái Sơn sau năm 1975. Chùa có kiến trúc giản dị, chánh điện thờ Phật Thích Ca, Địa Tạng Bồ Tát và Quán Thế Âm. Gần chùa có một hang nhỏ, đi thêm khoảng 40 m dọc vách đá là động Tam Thanh.

Hỏa Sơn là khu vực gồm hai ngọn Dương Hỏa Sơn và Âm Hỏa Sơn, có chung chân núi nhưng tách thành hai khối. Âm Hỏa Sơn nằm bên sông Cổ Cò, từng ở gần khu vực giao thương đường thủy giữa Đà Nẵng và Hội An. Dương Hỏa Sơn có hang xuyên núi và nhiều di tích Phật giáo.

Chùa Linh Sơn có nguồn gốc từ một thảo am do sư Huệ Nhật dựng năm 1960. Đến năm 1964, am được thay bằng ngôi chùa lợp ngói. Chùa thờ Phật Thích Ca, Đại Thế Chí, Quán Thế Âm và Địa Tạng Bồ Tát. Tư liệu cũng ghi lại câu chuyện chùa từng bị lực lượng Mỹ bắn phá trong năm 1964 và sau đó được xây dựng lại.

Động Huyền Vi được phát hiện từ thời Lê Cảnh Hưng. Năm 1825, vua Minh Mạng cho khắc ba chữ Hán “Huyền Vi Động” trên vách. Đến năm 1960, các vị trụ trì tiến hành khai phá cửa động.

Hang đi sâu khoảng 70 m, nhiều đoạn hẹp và quanh co. Bên trong có những hình tượng thạch nhũ được thiên nhiên tạo thành, từ rồng, rùa đến hình Phật, ông Lữ đi câu và trống đá. Trong chiến tranh, địa hình hiểm trở của Huyền Vi từng được lực lượng cách mạng sử dụng làm nơi hoạt động bí mật.

Kim Sơn và chùa Quan Thế Âm

Kim Sơn nằm về phía Tây, bên sông Cổ Cò. Xưa kia khu vực này có bến Ngự, nơi thuyền vua cập bến khi vi hành Ngũ Hành Sơn. Tư liệu cho biết dấu tích cột gỗ lim dùng để neo thuyền của vua vẫn được lưu giữ tại chùa Quan Thế Âm.

Kim Sơn có dáng tròn như một chiếc chuông úp. Sườn phía Tây dựng đứng với những lớp đá nhô ra, trong khi cây cối mọc xen giữa các hốc đá. Trên núi có hòn Phật và mũi đá Kim Vọng.

Trong chiến tranh, vị trí cao và mặt bằng tương đối thuận lợi khiến Kim Sơn từng bị sử dụng làm điểm quân sự. Tư liệu ghi lại trận đánh ngày 23/8/1968, khi xã đội trưởng Hòa Hải Lê Tô tiếp cận vị trí trên đỉnh núi, phá hủy hệ thống hồng ngoại và ổ súng K57 của đối phương.

Chùa Quan Thế Âm có lịch sử gắn với việc Hòa thượng Thích Pháp Nhãn phát hiện động Quan Âm vào năm 1956. Ban đầu chùa được lập gần hang, đến năm 1960 được chuyển xuống khu đất rộng dưới chân Kim Sơn và xây dựng kiên cố hơn.

Ngày nay, chùa đã được trùng tu và mở rộng. Đây cũng là trung tâm của Lễ hội Quán Thế Âm, một trong những lễ hội văn hóa Phật giáo nổi bật của Ngũ Hành Sơn.

Động Quan Âm là một hang tối, khác với những hang sáng của Thủy Sơn. Đường vào gồm các bậc đá tự nhiên đi sâu xuống lòng núi. Hang dài khoảng 50 m, rộng khoảng 10 m và cao từ 15 đến 20 m.

Điểm nổi bật nhất là một khối thạch nhũ tự nhiên tạo thành hình tượng Quan Thế Âm Bồ Tát, trong tư thế cầm bình cam lộ. Xung quanh là những hình tượng tự nhiên được liên tưởng đến trúc, mây, Thiện Tài, Đồng Tử, rồng và chim khổng tước.

Cuối động có hồ Cam Lồ, một hồ nước trong và mát nằm sâu trong lòng núi.

Chùa Ứng Nhiên, Phổ Đà Sơn và Thổ Sơn

Chùa Ứng Nhiên Phật Tông Tự được xây dựng năm 1989 gần chân Âm Hỏa Sơn, bên sông Cổ Cò. Chùa có cảnh quan yên tĩnh và nổi bật với pho tượng Thích Ca cao khoảng 5 m do Đại đức Thích Chúc Thành thực hiện bằng xi măng.

Gần chùa có suối Cam Nhiên, còn được người dân gọi là giếng Mọi, với dòng nước trong quanh năm. Bên cạnh là động Kim Cang, nơi thờ tượng Phật theo phong cách điêu khắc Chiêm Thành, cùng hang Bà Tho, hiện thờ Phật A Di Đà.

Ở cuối Dương Hỏa Sơn là chùa và hang Phổ Đà Sơn. Hang xuyên qua núi từ phía Bắc sang phía Nam, tạo ra một không gian khá u tịch và có thể quan sát cảnh quan hai phía của Dương Hỏa Sơn.

Ngôi chùa nhỏ nằm ẩn trong hang, thờ Phật Thích Ca, Quan Âm và Đại Thế Chí. Tư liệu xem đây là ngôi chùa ni đặc biệt trong hệ thống chùa chiền Non Nước Ngũ Hành Sơn. Người dân địa phương quen gọi là chùa Cô Đán.

Thổ Sơn nằm ở phía Tây Bắc. Địa hình núi kéo dài theo dạng dốc, vách đá dựng đứng và cây cối không quá dày. Sườn phía Đông Nam có hang Bồ Đề, cửa hang hẹp nhưng bên trong có đường thông lên cao.

Trong kháng chiến, hang được sử dụng như một địa đạo tự nhiên và cứ điểm chống càn. Tư liệu ghi lại năm 1947, quân Pháp từng bao vây, hun khói và nổ mìn lấp cửa hang nhưng lực lượng bên trong vẫn rút lui an toàn.

Chùa Long Hoa nằm ở sườn phía Bắc Thổ Sơn, được xây dựng từ năm 1992. Trên vách đá gần chùa có một khối đá cao khoảng 30 m mang hình dáng gợi liên tưởng đến Phật Di Lặc. Chùa thờ Di Lặc, Thích Ca, Quan Âm và Địa Tạng.

Tư liệu cũng đề cập đề án “Long Hoa Đại Cảnh”, hướng tới xây dựng một quần thể cảnh quan chùa chiền dưới chân Hỏa Sơn, nếu được triển khai sẽ tạo thêm một điểm đến tâm linh và cảnh quan cho khu vực phía Tây.

Miếu Ông Chài và dấu tích đường thủy xưa

Miếu Ông Chài được cho là xây dựng vào thời Gia Long, khoảng 1802 – 1819. Miếu từng gắn với hoạt động thu thuế các tàu buôn đi lại trên sông Cổ Cò giữa Hội An và Đà Nẵng.

Khi dòng sông dần bị bồi lấp, vai trò giao thông đường thủy suy giảm, miếu cũng bị bỏ hoang.

Tên gọi miếu gắn với một câu chuyện dân gian về hai cha con làm nghề chài lưới sống ở khu vực Hỏa Sơn. Truyền thuyết mang màu sắc dân gian và được lưu truyền để lý giải nguồn gốc tên gọi của miếu.

Ngày nay, câu chuyện về miếu Ông Chài góp thêm một lớp ký ức dân gian cho khu vực phía Tây Ngũ Hành Sơn, bên cạnh hệ thống chùa, hang động và dấu tích sông Cổ Cò.

Lễ hội Quán Thế Âm, một nét văn hóa đặc sắc của Non Nước

Lễ hội Quán Thế Âm có nguồn gốc từ việc Hòa thượng Thích Pháp Nhãn phát hiện một hình tượng Quan Âm bằng thạch nhũ tự nhiên trong động Quan Âm vào năm 1956.

Đến năm 1962, nhân dịp khánh thành ngôi chùa mới, lễ vía Quan Âm ngày 19 tháng 2 âm lịch được tổ chức. Về sau, hoạt động này được phục hồi và phát triển thành lễ hội truyền thống.

Từ năm 1991, lễ hội được tổ chức với quy mô lớn hơn, mang tên Lễ hội Quán Thế Âm, Ngũ Hành Sơn, Non Nước, diễn ra trong ba ngày 17, 18 và 19 tháng 2 âm lịch.

Cuối năm 1999, lễ hội được Nhà nước công nhận là một trong 15 lễ hội dân gian cấp quốc gia theo tư liệu.

Lễ hội gồm hai phần chính. Phần lễ được tổ chức theo nghi thức trang nghiêm của Phật giáo. Phần hội diễn ra với nhiều hoạt động văn hóa, thể thao, vui chơi và giao lưu cộng đồng.

Không chỉ là hoạt động tín ngưỡng, lễ hội còn tạo nên không gian giao thoa giữa văn hóa Phật giáo và văn hóa dân gian, thu hút Phật tử, người dân Đà Nẵng và du khách từ nhiều nơi.

Làng đá mỹ nghệ Non Nước, nghề thủ công dưới chân núi

Ngay dưới chân Ngũ Hành Sơn là làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước, một trong những không gian nghề truyền thống nổi bật của Đà Nẵng.

Nguồn gốc làng nghề được tư liệu liên hệ với xã Quán Khái xưa, nay thuộc khu vực Hòa Quý. Trên bia chùa Phổ Khánh ở làng Ái Nghĩa, được khắc năm 1678, có ghi quê quán của người khắc bia là xã Quán Khái. Từ đó có thể thấy nghề khắc bia, đục chữ tại khu vực này đã tồn tại ít nhất từ thế kỷ XVII.

Những người thợ được cho là di cư từ Thanh Hóa vào lập nghiệp. Ban đầu họ chủ yếu đục chữ, làm bia đá, cối đá và các vật dụng đơn giản. Theo thời gian, kỹ thuật chế tác phát triển, nghề chuyển dần sang điêu khắc tượng và sản xuất đồ mỹ nghệ.

Dưới triều vua Tự Đức, nhiều nghệ nhân Ngũ Hành Sơn được triệu về kinh đô để tham gia và giám sát công việc điêu khắc đá tại các cung điện, lăng tẩm.

Tư liệu cũng ghi lại câu chuyện trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ, một số người thợ đá Ngũ Hành Sơn từng bí mật vận chuyển những phiến đá cẩm thạch để góp phần xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ngày nay, sản phẩm đá mỹ nghệ Non Nước rất phong phú, từ các tượng mang cảm hứng văn hóa Chăm như Apsara, Ganesa, Laksmi, tượng Phật, Quan Thế Âm, đến những sản phẩm nhỏ như nhẫn, vòng, lọ hoa, bộ ấm chén, hộp trang sức, lư thờ, gạt tàn và nhiều đồ trang trí.

Các nghệ nhân cũng sáng tạo những tác phẩm theo mô típ phương Tây, từ tượng thần Vệ nữ đến hình tượng các danh nhân thế giới.

Sản phẩm đá Non Nước theo chân du khách đi đến nhiều quốc gia, trở thành một phần quan trọng trong hình ảnh văn hóa của Ngũ Hành Sơn.

Phía Tây Ngũ Hành Sơn, một không gian còn nhiều tiềm năng

Trong hành trình khám phá Ngũ Hành Sơn, du khách thường tập trung ở Thủy Sơn vì đây là khu vực thuận tiện, có hệ thống hang động và chùa chiền phong phú. Tuy nhiên, giá trị của danh thắng không dừng lại ở một ngọn núi.

Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ tạo thành một tổng thể thống nhất. Mỗi ngọn núi chứa đựng những lớp cảnh quan, lịch sử, văn hóa và sinh thái riêng.

Đặc biệt, khu vực phía Tây có điều kiện phát triển các loại hình du lịch sinh thái và du lịch làng quê. Nơi đây nằm gần sông Cổ Cò, đồng ruộng, bãi bồi và làng mạc, tạo nên một cảnh quan khác với không gian núi đá và biển ở phía Đông.

Khu vực quanh chùa Quan Thế Âm và chân Kim Sơn có những khoảng đồng ruộng rộng, dân cư tương đối thưa, núi non kết hợp sông nước, ao hồ, làng mạc, chùa chiền và hang động. Đây là nền tảng để phát triển những trải nghiệm du lịch mang sắc thái phương Đông, kết hợp cảnh quan với văn hóa và đời sống địa phương.

Phía Tây cũng lưu giữ nhiều dấu tích lịch sử như mộ mẹ tướng quân Trần Quang Diệu, đền thờ công chúa Ngọc Lan, dấu tích bến Ngự của các vua triều Nguyễn và những địa điểm gắn với phong trào đấu tranh cách mạng như hang Bà Tho, chùa Cô Đán và hang Bồ Đề ở Thổ Sơn.

Hệ thống đường giao thông hiện nay cũng tạo điều kiện kết nối khu vực phía Tây với các tuyến Đà Nẵng, Hội An, Non Nước và trung tâm Ngũ Hành Sơn, hình thành một hành trình khép kín hơn thay vì chỉ tham quan riêng Thủy Sơn.

Đây cũng là lý do khu vực phía Tây có thể trở thành một phần quan trọng trong việc mở rộng trải nghiệm Ngũ Hành Sơn, giúp du khách hiểu danh thắng theo một cách đầy đủ hơn.

Ngũ Hành Sơn, nơi thiên nhiên và lịch sử cùng tồn tại

Điều làm nên sức hấp dẫn của Ngũ Hành Sơn không nằm ở một pho tượng, một ngôi chùa hay một hang động riêng lẻ. Giá trị của nơi đây nằm ở sự kết hợp của cả một quần thể.

Có núi đá vôi và những hang động được tạo thành qua hàng triệu năm. Có những ngôi chùa đã tồn tại qua nhiều thế kỷ. Có các truyền thuyết về Long Quân, Kim Quy và cô gái bước ra từ quả trứng thần. Có dấu tích văn hóa Chăm, những câu chuyện về các vua triều Nguyễn, những cuộc gặp gỡ của sĩ phu yêu nước và những địa điểm từng là căn cứ cách mạng trong chiến tranh.

Có làng đá mỹ nghệ Non Nước tiếp nối nghề thủ công qua nhiều thế hệ. Có lễ hội Quán Thế Âm kết hợp tín ngưỡng Phật giáo với văn hóa dân gian. Và có cả những con sông, cánh đồng, làng quê phía Tây tạo nên một diện mạo rất khác của danh thắng.

Với du khách lần đầu đến Đà Nẵng, Thủy Sơn có thể là điểm khởi đầu thuận tiện nhất. Nhưng để hiểu đầy đủ hơn về Ngũ Hành Sơn, hành trình nên được mở rộng sang Kim Sơn, Hỏa Sơn, Thổ Sơn, các di tích phía Tây, làng đá Non Nước và không gian văn hóa Quán Thế Âm.

Ngũ Hành Sơn vì thế không chỉ là một điểm tham quan nổi tiếng của Đà Nẵng. Đây là một quần thể di sản tự nhiên và văn hóa, nơi núi đá, hang động, Phật giáo, tín ngưỡng dân gian, lịch sử và đời sống cộng đồng cùng tạo nên một bức tranh đặc biệt của vùng đất ven biển miền Trung.

Đến Ngũ Hành Sơn, du khách không chỉ đi qua những bậc đá để vào một hang động hay một ngôi chùa. Mỗi bước chân còn mở ra một lớp câu chuyện khác, từ dấu tích của biển cổ, truyền thuyết dân gian, những trang lịch sử chiến tranh đến nghề đá mỹ nghệ đã gắn với chân núi qua nhiều thế hệ.

Ngũ Hành Sơn, Non Nước, bởi vậy vẫn giữ nguyên sức hấp dẫn của một danh thắng mà thiên nhiên và con người cùng nhau tạo nên qua hàng trăm, hàng nghìn năm.

5/5 - (1)
Điểm đến
Lượt xem: 8
Bạn phải đăng nhập để gửi bình luận.

Liên hệ truyền thông 0938948549

1 result
Bạn sẽ quan tâm?:
Có thể bạn cũng quan tâm: