Ma nhai tại danh thắng Ngũ Hành Sơn

Ẩn mình trên những vách đá và trong các hang động kỳ vĩ của danh thắng Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng, hệ thống ma nhai là một kho tàng văn khắc cổ đặc biệt, lưu giữ những dấu ấn lịch sử, tôn giáo, văn học và nghệ thuật của Việt Nam qua gần bốn thế kỷ. Những dòng chữ Hán, chữ Nôm được khắc trực tiếp lên đá không chỉ ghi lại cảm xúc của các bậc vua chúa, quan lại, cao tăng và văn nhân khi đến Ngũ Hành Sơn mà còn phản ánh những cuộc giao lưu văn hóa, thương mại và tín ngưỡng giữa Việt Nam với nhiều quốc gia trong khu vực.

Với 78 văn bản được xác định trong hồ sơ ghi danh, có niên đại từ nửa đầu thế kỷ XVII đến thế kỷ XX, ma nhai Ngũ Hành Sơn là một trong những hệ thống văn khắc trên vách đá có giá trị nổi bật tại Việt Nam. Mỗi văn bản là một dấu tích nguyên gốc, gắn chặt với không gian núi đá nơi nó được tạo tác, chứa đựng những thông tin không thể thay thế về lịch sử và đời sống tinh thần của nhiều thế hệ.

Ngày 26/11/2022, “Ma nhai tại danh thắng Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng, Việt Nam” chính thức được ghi danh vào Danh mục Di sản tư liệu thuộc Chương trình Ký ức Thế giới khu vực châu Á – Thái Bình Dương của UNESCO. Sự kiện đánh dấu một cột mốc quan trọng trong hành trình bảo tồn và quảng bá di sản văn hóa Đà Nẵng ra thế giới.

Ma nhai Ngũ Hành Sơn và hành trình gần 400 năm lịch sử

Ma nhai là thuật ngữ dùng để chỉ những văn bản, bài thơ, bia ký hoặc dấu tích chữ viết được khắc trực tiếp lên vách núi, vách đá tự nhiên. Khác với những tấm bia đá độc lập có thể di chuyển, ma nhai thường gắn liền với chính địa hình nơi chúng được tạo tác, trở thành một phần của cảnh quan và không gian văn hóa.

Tại Ngũ Hành Sơn, hệ thống ma nhai tập trung chủ yếu trên ngọn Thủy Sơn, nơi có nhiều hang động, chùa chiền và công trình tín ngưỡng nổi tiếng. Những văn khắc này được hình thành trong một quá trình lịch sử lâu dài, từ thời các chúa Nguyễn ở Đàng Trong đến các triều vua Nguyễn và những thập niên giữa thế kỷ XX.

Trước khi trở thành trung tâm Phật giáo quan trọng của người Việt, Ngũ Hành Sơn đã là một không gian tín ngưỡng gắn với cư dân Champa. Những dấu tích văn hóa Chăm tại khu vực cho thấy vùng núi này từng mang ý nghĩa tâm linh đối với các cộng đồng cư trú trước đó.

Từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX, cùng với sự phát triển của thương cảng Hội An và hoạt động ngoại thương Đàng Trong, Ngũ Hành Sơn dần trở thành điểm đến của nhiều tầng lớp xã hội. Các thiền sư, thương nhân, quan lại, văn nhân và khách phương xa tìm đến đây để lễ Phật, thưởng ngoạn cảnh sắc, giao lưu văn hóa và lưu lại những dòng chữ trên vách đá.

Vị trí của Ngũ Hành Sơn đặc biệt thuận lợi khi nằm gần sông Cổ Cò, tuyến đường thủy từng kết nối khu vực cửa Hàn với cửa Đại Chiêm và thương cảng Hội An. Trong thời kỳ thương mại hàng hải phát triển, tuyến giao thông này góp phần tạo điều kiện cho sự giao lưu giữa cư dân địa phương với các cộng đồng thương nhân người Hoa, người Nhật và những nhóm khách quốc tế khác.

Chính bối cảnh lịch sử ấy đã tạo nên một không gian văn hóa đa dạng, nơi Phật giáo, văn chương, nghệ thuật thư pháp và hoạt động giao thương cùng để lại dấu ấn trong hệ thống ma nhai.

Từ năm 1802, khi triều Nguyễn chọn Huế làm kinh đô, Đà Nẵng giữ vị trí chiến lược quan trọng trong hệ thống phòng thủ và giao thông của vương triều. Ngũ Hành Sơn vì thế cũng nhận được sự quan tâm của các vị vua nhà Nguyễn.

Đặc biệt, vua Minh Mạng được ghi nhận đã ba lần đến Ngũ Hành Sơn. Sau những chuyến ngự lãm, nhà vua cho tu bổ chùa chiền, sửa sang các công trình tín ngưỡng, tô tượng, đúc chuông và ban cấp kinh sách.

Các đời vua Thiệu Trị, Tự Đức và Thành Thái sau đó cũng dành sự quan tâm cho danh thắng. Trong những chuyến viếng thăm, nhiều hoàng thân, đại thần và danh nhân đã để lại thơ văn, lời đề tặng hoặc những bài tán được khắc lên vách đá.

Theo tư liệu Ngũ Hành Sơn lục, các đời vua và quan lại thường đến thưởng ngoạn, để lại nhiều bài thơ, bia ký và đề từ trong các hang động. Nhờ đó, Ngũ Hành Sơn không chỉ là một danh thắng thiên nhiên mà còn trở thành không gian lưu giữ ký ức văn chương và lịch sử của nhiều thế hệ.

Sau năm 1945, do những biến động lịch sử và ảnh hưởng của chiến tranh, hoạt động tạo tác ma nhai dần thưa vắng. Một trong những văn khắc muộn được ghi nhận là bài Du Ngũ Hành Sơn của tác giả Thích Diệu Ngộ, khắc năm 1961.

Từ đó, hệ thống ma nhai cổ tại Ngũ Hành Sơn trở thành một di sản cần được gìn giữ, nghiên cứu và bảo vệ trước những tác động của thời gian.

Hệ thống 78 ma nhai và những tác phẩm tiêu biểu

Theo hồ sơ được ghi danh, hệ thống ma nhai tại danh thắng Ngũ Hành Sơn gồm 78 văn bản chữ Hán và chữ Nôm, phân bố chủ yếu trong các hang động và trên những vách đá thuộc ngọn Thủy Sơn.

Các văn khắc thể hiện nhiều loại hình khác nhau như ngự bút, bia ký, thơ văn, bài tán, đề từ, đề danh, câu đối và những văn bản ghi nhận công đức của tín chủ. Nội dung trải rộng từ lịch sử Phật giáo, việc xây dựng và trùng tu chùa chiền đến những cảm xúc trước thiên nhiên, suy ngẫm về cuộc đời, quê hương và đất nước.

Động Huyền Không là một trong những địa điểm tập trung nhiều ma nhai nhất, với khoảng 30 văn khắc được ghi nhận trong các tư liệu khảo cứu. Đây cũng là nơi lưu giữ nhiều tác phẩm có giá trị về văn học, thư pháp và nghệ thuật chạm khắc.

Tại động Huyền Không, bài thơ Bạch thạch hoàng sa thúy tác đôi của đại thần Trương Quang Đản gây ấn tượng bởi nét chữ mang phong cách Hành thư pha Thảo thư, thể hiện sự phóng khoáng và tinh tế trong nghệ thuật thư pháp cổ.

Cũng tại khu vực này, tác phẩm Phong nguyệt tỉnh thành của Tiểu Cao Nguyễn Văn Mại, người từng giữ chức Bố chánh Quảng Nam, là một văn bản chữ Nôm đặc biệt. Tác phẩm được viết theo lối hát nói gắn với nghệ thuật ca trù, cho thấy sự hiện diện của văn học Nôm trong không gian ma nhai vốn có nhiều văn bản chữ Hán.

Bên cạnh đó, những bài thơ như Khả lân sơn sắc, Vọng Ngũ Hành Sơn và Ngũ Hành tú sắc thể hiện tình cảm của các tác giả trước vẻ đẹp thiên nhiên. Qua những câu thơ được khắc trên đá, người đọc có thể cảm nhận cách các bậc văn nhân xưa nhìn nhận cảnh sắc Ngũ Hành Sơn, đồng thời gửi gắm suy tư về lịch sử, đất nước và con người.

Động Hoa Nghiêm và động Tàng Chơn cũng là những địa điểm quan trọng trong hệ thống văn khắc. Tại đây còn lưu giữ các bia ký cổ gắn với lịch sử Phật giáo Đàng Trong, trong đó có những văn bản có niên đại từ thế kỷ XVII.

Đặc biệt, bia Ngũ Uẩn Sơn cổ tích Phật tịch diệt lạc được xác định có niên đại năm 1631 và bia Phổ Đà Sơn Linh Trung Phật có niên đại năm 1640. Đây là hai trong số những văn khắc cổ nhất còn được biết đến tại Ngũ Hành Sơn.

Cả hai văn bia đều gắn với hoạt động Phật sự của thiền sư Huệ Đạo Minh, người được tư liệu ghi nhận đã đến tu sửa Phật tích, tổ chức đạo tràng và vận động các tín hữu gần xa tham gia xây dựng, phát triển không gian tín ngưỡng tại Ngũ Hành Sơn.

Tại động Tàng Chơn còn có văn khắc Nam Bảo Đài hình bi, hiện chỉ lưu giữ được một phần dấu tích. Nội dung chính của bia đã bị đục bỏ, chỉ còn lại phần tiêu đề bằng chữ Hán và những yếu tố trang trí cho phép nghiên cứu đặc điểm nghệ thuật bia ký thời các chúa Nguyễn.

Những văn bản này cho thấy hệ thống ma nhai Ngũ Hành Sơn không chỉ phong phú về số lượng mà còn đa dạng về thể loại, niên đại và phong cách thể hiện.

Về phân bố, các tài liệu khảo cứu được trích dẫn có sự khác biệt trong cách thống kê số lượng văn khắc tại từng hang động. Một số tài liệu ghi nhận khoảng 30 ma nhai tại động Huyền Không, 20 tại động Tàng Chơn, 21 tại động Hoa Nghiêm, 3 tại động Linh Nham và 2 tại động Vân Thông; trong khi những bảng tổng hợp khác sử dụng cách phân loại và xác định vị trí khác nhau. Vì vậy, con số 78 văn bản trong hồ sơ ghi danh được sử dụng làm mốc tổng thể, thay vì cộng gộp các số liệu phân bố chưa thống nhất.

Giá trị lịch sử, giao lưu quốc tế và nghệ thuật thư pháp trên đá

Một trong những giá trị nổi bật nhất của ma nhai Ngũ Hành Sơn là khả năng cung cấp tư liệu nguyên gốc về lịch sử giao lưu văn hóa và thương mại ở khu vực châu Á trong thế kỷ XVII.

Tiêu biểu là bia Phổ Đà Sơn Linh Trung Phật, được khắc năm 1640. Văn bia ghi nhận hoạt động công đức của nhiều tín chủ tham gia xây dựng và phát triển cơ sở Phật giáo tại Ngũ Hành Sơn.

Theo nội dung được các nhà nghiên cứu khảo cứu, văn bia lưu danh 82 đạo hữu cùng những khoản đóng góp để xây dựng chùa Bình An. Tổng số tài sản được ghi nhận gồm 1.915 quan tiền, 65 lạng bạc và 570 cân đồng.

Giá trị lịch sử của văn bia không chỉ nằm ở quy mô tài sản đóng góp mà còn ở danh tính và nguồn gốc của các tín chủ.

Bên cạnh những người Việt đến từ các địa phương thuộc khu vực Hòa Vang, Điện Bàn và Hội An, danh sách còn ghi nhận sự hiện diện của người Hoa và người Nhật Bản.

Điều này cho thấy ngay từ thế kỷ XVII, Ngũ Hành Sơn đã là một không gian Phật giáo có khả năng kết nối nhiều cộng đồng cư dân, đồng thời phản ánh mối liên hệ giữa đời sống tín ngưỡng và mạng lưới thương mại hàng hải trong khu vực.

Đặc biệt, văn bia còn được giới nghiên cứu quan tâm khi tìm hiểu vai trò của phụ nữ trong hoạt động công đức, quan hệ xã hội và những cuộc hôn nhân xuyên cộng đồng tại Hội An thời kỳ thương cảng phát triển.

Những thông tin được lưu giữ trên bia là nguồn tư liệu quan trọng để nghiên cứu quan hệ văn hóa, kinh tế và xã hội giữa Việt Nam, Trung Quốc và Nhật Bản trong lịch sử.

Ngoài giá trị lịch sử, hệ thống ma nhai Ngũ Hành Sơn còn là một kho tàng nghệ thuật thư pháp và điêu khắc đá.

Các văn khắc thể hiện nhiều phong cách chữ Hán cổ điển như Khải thư, Hành thư, Thảo thư và Lệ thư. Mỗi phong cách mang đặc điểm riêng về cấu trúc chữ, nhịp điệu nét bút và cảm xúc nghệ thuật.

Trên bề mặt đá tự nhiên, những nét chữ được người thợ chạm khắc thể hiện bằng đường nét khi mềm mại, uyển chuyển, khi mạnh mẽ và dứt khoát. Sự kết hợp giữa thư pháp và địa hình vách đá tạo nên những tác phẩm vừa có giá trị tư liệu vừa mang tính nghệ thuật tạo hình.

Đặc biệt, các bia ký thời chúa Nguyễn như Ngũ Uẩn Sơn cổ tích Phật tịch diệt lạc và Phổ Đà Sơn Linh Trung Phật còn lưu giữ những hoa văn trang trí có phong cách riêng, góp phần phản ánh đặc điểm mỹ thuật và kỹ thuật chạm khắc đá của giai đoạn này.

Việc tạo tác ma nhai đòi hỏi người thợ phải lựa chọn vị trí thích hợp trên vách đá, xử lý bề mặt, bố trí nội dung văn bản và chạm khắc từng nét chữ.

Theo kinh nghiệm được lưu truyền trong cộng đồng nghề đá mỹ nghệ Non Nước, quá trình tạo tác thường bao gồm các công đoạn lựa chọn vị trí, làm phẳng bề mặt đá và khắc nội dung theo bản mẫu.

Người thợ không chỉ cần có kỹ năng sử dụng công cụ mà còn phải hiểu cấu trúc chữ viết, bố cục thư pháp và đặc điểm của chất liệu đá.

Chính sự kết hợp giữa tài năng văn chương của tác giả, nghệ thuật thư pháp và kỹ thuật chạm khắc của nghệ nhân đã tạo nên giá trị đặc biệt cho mỗi văn bản.

Về mặt ngôn ngữ và văn học, ma nhai cung cấp nguồn tư liệu để nghiên cứu chữ Hán, chữ Nôm, các thể loại thơ văn cổ, danh xưng địa danh, chức tước quan lại và cách sử dụng ngôn ngữ qua nhiều thời kỳ.

Về mặt tôn giáo, các văn khắc phản ánh sự phát triển của Phật giáo tại Đàng Trong, đồng thời cho thấy những ảnh hưởng và sự giao thoa giữa các hệ tư tưởng truyền thống trong đời sống tinh thần của cư dân Việt Nam.

Tính độc bản, những tổn thất qua thời gian và nỗ lực bảo tồn

Điểm đặc biệt của ma nhai Ngũ Hành Sơn là tính độc bản và mối liên hệ không thể tách rời giữa văn bản với địa điểm tồn tại.

Mỗi ma nhai được khắc trực tiếp trên một bề mặt đá tự nhiên, với vị trí, kích thước, bố cục, nội dung và phong cách riêng. Không có hai văn khắc hoàn toàn giống nhau và cũng không thể thay thế một văn bản đã mất bằng một bản sao có giá trị nguyên gốc tương đương.

Khác với những tấm bia đá có thể di chuyển đến bảo tàng hoặc nơi lưu giữ khác, phần lớn ma nhai Ngũ Hành Sơn gắn trực tiếp với vách núi và hang động. Giá trị của chúng vì thế bao gồm cả nội dung văn tự lẫn môi trường tự nhiên và văn hóa nơi chúng được tạo tác.

Tuy nhiên, trải qua gần 400 năm, hệ thống ma nhai đã chịu nhiều tác động từ khí hậu, độ ẩm, nước thấm, sự phát triển của rêu và thực vật, chiến tranh cũng như các hoạt động của con người.

Một số văn khắc bị mài mòn, nứt vỡ, mất chữ hoặc bị che phủ bởi những lớp sơn và xi măng. Có trường hợp nội dung bị đục bỏ hoặc xuất hiện những dấu khắc bổ sung về sau, làm thay đổi tình trạng nguyên gốc của di sản.

Theo một số kết quả khảo cứu được dẫn trong tư liệu, trong 79 văn khắc từng được thống kê, chỉ khoảng 52 văn bản còn có thể đọc được tương đối rõ. Con số này phản ánh tình trạng bảo tồn được ghi nhận tại thời điểm khảo sát, không nên đồng nhất với số lượng 78 văn bản trong hồ sơ ghi danh năm 2022.

Những tổn thất ấy cho thấy tính cấp thiết của việc bảo vệ ma nhai trước các nguy cơ xuống cấp tiếp diễn.

Trong những năm qua, chính quyền và các cơ quan chuyên môn của Đà Nẵng đã triển khai nhiều hoạt động nhằm quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị hệ thống văn khắc.

Tại danh thắng Ngũ Hành Sơn, các biện pháp bảo vệ bao gồm bố trí bảng hướng dẫn, giới thiệu nội dung văn bia, nhắc nhở du khách không chạm tay vào bề mặt văn khắc, vệ sinh khu vực di tích và kiểm soát những yếu tố có nguy cơ gây hại.

Cùng với việc bảo vệ tại chỗ, công tác nghiên cứu và ứng dụng công nghệ số được xác định là một hướng đi quan trọng.

Các hoạt động như khảo sát, chụp ảnh tư liệu, dập bản theo phương pháp chuyên môn phù hợp, số hóa, phiên âm chữ Hán Nôm, dịch nghĩa và xây dựng cơ sở dữ liệu có thể giúp lưu giữ thông tin của các văn khắc trong điều kiện chúng tiếp tục chịu tác động của thời gian.

Việc số hóa còn tạo điều kiện cho các nhà nghiên cứu trong nước và quốc tế tiếp cận nguồn tư liệu, đối chiếu văn bản, nghiên cứu lịch sử Phật giáo, văn học, ngôn ngữ và giao lưu văn hóa khu vực.

Bên cạnh đó, những hoạt động trưng bày, triển lãm, xuất bản tư liệu, giới thiệu thư pháp Hán Nôm và giáo dục di sản trong trường học cũng có ý nghĩa trong việc đưa giá trị ma nhai đến gần hơn với cộng đồng.

Đối với công tác tu bổ, những giải pháp như xử lý rêu bám, loại bỏ vật liệu che phủ, gia cố vết nứt và bảo vệ bề mặt đá cần được nghiên cứu kỹ lưỡng, thực hiện bởi đội ngũ chuyên môn nhằm tránh gây tổn hại đến văn khắc nguyên gốc.

Bảo tồn ma nhai không đơn thuần là giữ lại những dòng chữ cổ mà còn là gìn giữ một hệ thống ký ức lịch sử được khắc trực tiếp vào cảnh quan thiên nhiên.

Ghi danh Di sản tư liệu Ký ức Thế giới khu vực châu Á – Thái Bình Dương

Ngày 26/11/2022, tại thành phố Andong, tỉnh Gyeongsang Bắc, Hàn Quốc, Hội nghị toàn thể lần thứ 9 của Ủy ban Chương trình Ký ức Thế giới khu vực châu Á – Thái Bình Dương (MOWCAP) đã chính thức thông qua việc ghi danh Ma nhai tại danh thắng Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng, Việt Nam vào Danh mục Di sản tư liệu khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Hội nghị diễn ra từ ngày 23 đến ngày 26/11/2022, với việc xem xét 13 hồ sơ do bảy quốc gia thành viên đệ trình, gồm Hàn Quốc, Indonesia, Trung Quốc, Việt Nam, Singapore, Iran và Bangladesh.

Hồ sơ ma nhai Ngũ Hành Sơn được đánh giá cao bởi tính xác thực, tính toàn vẹn của nguồn tư liệu, ý nghĩa lịch sử và văn hóa khu vực, những thông tin liên quan đến vai trò của phụ nữ trong giao lưu quốc tế, cùng định hướng bảo tồn và phát huy giá trị di sản.

Việc ghi danh là sự công nhận đối với giá trị của một hệ thống văn bản gốc độc đáo, phản ánh những mối liên hệ lịch sử vượt ra ngoài phạm vi một địa phương hay một quốc gia.

Đây cũng là di sản tư liệu đầu tiên của thành phố Đà Nẵng được ghi danh ở cấp khu vực trong khuôn khổ Chương trình Ký ức Thế giới.

Cần phân biệt rằng Di sản tư liệu Ký ức Thế giới khu vực châu Á – Thái Bình Dương là một hình thức ghi danh thuộc chương trình bảo tồn di sản tư liệu của UNESCO, không đồng nghĩa với danh hiệu Di sản thế giới theo Công ước năm 1972.

Sự kiện năm 2022 không chỉ khẳng định giá trị của hệ thống ma nhai Ngũ Hành Sơn mà còn mở ra cơ hội tăng cường hợp tác nghiên cứu, bảo tồn và giới thiệu di sản đến cộng đồng quốc tế.

Đối với du khách đến Đà Nẵng, ma nhai Ngũ Hành Sơn mang đến một góc nhìn khác về danh thắng nổi tiếng này. Bên cạnh những ngôi chùa cổ, hang động kỳ vĩ và cảnh quan núi đá, mỗi văn khắc còn là một trang sử được lưu giữ giữa thiên nhiên.

Những dòng chữ khắc trên đá từ nhiều thế kỷ trước kể lại câu chuyện về các thiền sư, vua chúa, thương nhân, văn nhân và những cộng đồng từng gặp gỡ tại vùng đất cửa biển miền Trung.

Đó chính là giá trị bền vững của ma nhai Ngũ Hành Sơn: một di sản kết nối thiên nhiên, lịch sử, tôn giáo, văn học và nghệ thuật, góp phần làm phong phú bản sắc văn hóa Đà Nẵng trong dòng chảy di sản Việt Nam và khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Thông tin cơ bản

Hạng mục Thông tin
Tên di sản Ma nhai tại danh thắng Ngũ Hành Sơn
Tên tiếng Anh Ma Nhai Inscriptions at Marble Mountains
Địa điểm Danh thắng Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng
Không gian phân bố Chủ yếu tại ngọn Thủy Sơn, trong các hang động và trên vách đá tự nhiên
Loại hình Di sản tư liệu, văn khắc Hán Nôm trên đá
Số lượng trong hồ sơ ghi danh 78 văn bản
Niên đại Từ nửa đầu thế kỷ XVII đến thế kỷ XX
Chữ viết Chữ Hán và chữ Nôm
Thể loại Ngự bút, bia ký, thơ văn, đề từ, đề danh, bài tán, câu đối
Tác giả và người liên quan Vua triều Nguyễn, quan lại, hoàng thân, cao tăng, văn nhân và các tín chủ
Địa điểm tiêu biểu Động Huyền Không, động Hoa Nghiêm, động Tàng Chơn, động Vân Thông, động Linh Nham
Văn khắc tiêu biểu Ngũ Uẩn Sơn cổ tích Phật tịch diệt lạc (1631), Phổ Đà Sơn Linh Trung Phật (1640)
Giá trị nổi bật Lịch sử, Phật giáo, giao lưu quốc tế, văn học Hán Nôm, thư pháp và nghệ thuật chạm khắc đá
Danh hiệu Di sản tư liệu thuộc Chương trình Ký ức Thế giới khu vực châu Á – Thái Bình Dương
Tổ chức ghi danh MOWCAP, thuộc Chương trình Ký ức Thế giới của UNESCO
Ngày ghi danh 26/11/2022
Địa điểm công bố Andong, Hàn Quốc
Rate this post
Di sản tư liệu
Lượt xem: 10

Liên hệ truyền thông 0938948549

1 result
Bạn sẽ quan tâm?:
Có thể bạn cũng quan tâm: